|
Tư vấn Pháp luật >> Văn bản mới
Tóm
tắt văn bản pháp luật 06/2004
1.
Công văn số 5127/TC-HTQT ban hành ngày 14/05/2004 của Bộ
Tài chính về việc xử lý vướng mắc về phân loại hàng hóa nhập
khẩu áp dụng thuế suất CEPT/AFTA.
Theo đó, Bộ Tài chính hướng dẫn phân loại, xác
định mã số hàng hoá nhập khẩu áp dụng thuế suất CEPT thuộc các
tờ khai hải quan hàng nhập khẩu đã nộp cho cơ quan hải quan từ
ngày 01/07/2003 đến ngày 31/08/2003 như sau:
Hàng hoá được phân loại, xác định mã số hàng hoá nhập khẩu căn
cứ vào Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Quyết định
số 110/2003/QĐ-BTC ngày 25/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
Thông tư số 85/2003/TT-BTC ngày 29/08/2003 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện việc phân loại hàng hoá theo Danh mục hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu và Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Biểu
thuế xuất khẩu. Trường hợp hàng hoá, sau khi được phân loại, xác
định mã số hàng hoá nhập khẩu nằm trong Danh mục hàng hoá CEPT/AFTA
của Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 78/2003/NĐ-CP ngày
01/07/2003 của Chính phủ, được áp dụng thuế suất CEPT nếu đáp
ứng các điều kiện khác nêu trong Thông tư số 64/2003/TT-BTC ngày
01/07/2003 và các văn bản, hướng dẫn có liên quan khác của Bộ
Tài chính.
Trong trường hợp hàng hoá được phân loại, xác định mã số hàng
hoá nhập khẩu không nằm trong Danh mục hàng hoá CEPT/AFTA của
Việt Nam thì được phân loại và áp dụng mức thuế suất thuế nhập
khẩu ưu đãi đã quy định tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi tại thời
điểm nhập khẩu nếu có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá hợp lệ
hoặc mức thuế suất nhập khẩu thông thường nếu không có Giấy
chứng nhận xuất xứ hàng hoá hợp lệ.
Việc phân loại, xác định mã số hàng hoá nhập khẩu để áp dụng
thuế suất CEPT thuộc các tờ khai hải quan hàng nhập khẩu nộp cho
cơ quan hải quan từ ngày
01/09/2003 được áp dụng theo quy định hiện hành.
Công văn này thay thế Công văn số 4743/TC-HTQT ngày
05/05/2004 của Bộ Tài chính về việc xử lý vướng m ắc về phân
loại hàng hoá nhập khẩu áp dụng thuế suất CEPT/AFTA.
2.
Thông tư số 41/2004/TT-BTC ban hành ngày 18/05/2004 của
Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày
25/02/2004 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực Thuế.
Theo Thông tư này, các hành vi: Đăng ký thuế với
cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 1 đến 5 ngày làm việc, kể
cả trường hợp phải đăng ký bổ sung mỗi khi có sự thay đổi; Kê
khai không chính xác về số học trên tờ khai thuế, quyết toán
thuế hoặc kê khai không đầy đủ những chỉ tiêu trên tờ khai thuế,
quyết toán thuế nhưng không làm sai lệch số thuế phải nộp sau
thời gian được điều chỉnh, kê khai bổ sung theo quy định của
pháp luật về thuế; Nộp tờ khai thuế quá thời hạn quy định từ 1
đến 5 ngày làm việc; Nộp quyết toán thuế quá thời hạn quy đ ịnh
từ 1 đến 10 ngày làm việc… có thể bị phạt từ 50.000 đồng đến
100.000 đồng...; quá từ trên 5 đến 10 ngày có thể bị phạt đến
1.000.000 đồng…
Các hành vi sử dụng hoá đơn khống hoặc các chứng từ kế toán
khống, lập hai hệ thống sổ kế toán có nội dung ghi khác nhau...
nhằm mục đích làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế
được hoàn hoặc được miễn, giảm có thể bị phạt gấp 5 lần số tiền
trốn thuế…
Đối với hành vi không cung cấp được chứng từ kèm theo hàng hoá;
nguyên, vật liệu đang vận chuyển trên đườ ng để chứng minh lô
hàng đã nộp thuế hoặc đã được quản lý để thu thuế theo quy định
của pháp luật trong thời hạn tối đa 24 giờ tính từ thời điểm
kiểm tra, phát hiện có thể bị phạt đến 2.000.000 đồng…
Đối với hành vi nộp quyết toán thuế quá thời hạn quy định từ
trên 90 ngày làm việc hoặc đã quá thời hạn từ trên 90 ngày làm
việc mà vẫn chưa nộp quyết toán thuế có thể bị phạt hành chính
đến 25.000.000 đồng.
Hành vi không thực hiện lệnh niêm phong của cơ quan, người có
thẩm quyền thanh tra, kiểm tra hoặc niêm phong không đúng quy
định hồ s 17;, tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, két quỹ, kho
hàng, kho nguyên liệu, máy móc, nhà xưởng có thể bị phạt
3.000.000 đồng...; nếu tự ý tháo bỏ, di chuyển hoặc làm thay đổi
tình trạng niêm phong này có thể bị phạt 10.000.000 đồng…
3.
Công văn số 5312 TC/CST ban hành ngày 19/05/2004 của Bộ
Tài chính về việc đối tượng áp dụng Thông tư số 118/2003/TT-BTC
Theo Công văn gửi Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc TƯ ngày 19/05/2004, Bộ Tài Chính đã thông báo bổ sung đối
tượng được áp dụng Thông tư số 118/2003/TT-BTC ngày 8/12/2003
của Bộ Tài chính là hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ các nước
theo danh sách đính kèm tại công văn này như sau:
Theo đó, Dánh sách các nước, vùng lãnh thổ, khối liên minh quốc
gia thuộc đối tượng áp dụng Thông tư số 118/2003/TT-BTC NGàY
8/12/2003, ban hành kèm theo Công văn này như sau: New zealand;
Tây Ban Nha; Đài Loan; Bồ Đào Nha; Hồng Kông; Thuỵ Điển; Mông Cổ;
Anh; Na Uy; Italia; Ucraina; Ba Lan; áo; Séc; Bỉ; Estonia; Đan
Mạch; Lít va; Phần Lan; Lát Vi; Pháp; Hungari; Hy Lạp; Slovakia;
Hà Lan; Slovenia; Ai Len; Malta; Luých Xăm Bua; Xíp; Đức.
Thông báo này có hiệu lực thi hành và áp dụng cho tất cả các tờ
khai hàng hoá nhập khẩu nộp cho cơ quan Hải quan từ ngày
6/5/2004.
4. Thông tư số 02/2004/TT-NHNN ban hành ngày 19/05/2004
của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc ký quỹ tại ngân hàng đối
với doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động.
Theo Thông tư này, số tiền ký quỹ phải duy trì
trong suốt thời gian doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động.
- Ngân hàng và doanh nghiệp ký kết hợp đồng ký quỹ phù hợp với
quy định của Thông tư này và pháp luật có liên quan, trong đó có
các nội dung: tên, địa chỉ của doanh nghiệp và ngân hàng; số
tiền ký quỹ; lãi suất tiền gửi ký quỹ; mở và sử dụng tài khoản
ký quỹ; rút tiền ký quỹ; hoàn trả tiền ký quỹ; trách nhiệm của
các bên và các thoả thuận khác.
- Ngân hàng hạch toán số tiền ký quỹ vào tài khoản "Nhận ký quỹ
bằng đồng Việt
Nam
- bảo đảm các khoản thanh toán khác" và xác nhận việc doanh
nghiệp ký quỹ hoạt động xuất khẩu lao động (mẫu Phụ lục 02).
- Ngân hàng cho rút tiền ký quỹ để sử dụng vào
mục đích đưa người lao động Việt
Nam
ở nước ngoài về nước trong các trường hợp:
+ Có giấy đề nghị của doanh nghiệp (mẫu Phụ lục)
kèm văn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc yêu
cầu đưa người lao động Việt Nam ở nước ngoài về nước;
+ Có văn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội kèm văn bản uỷ quyền của doanh nghiệp về việc rút tiền ký
quỹ.
- Ngân h àng hoàn trả tiền ký quỹ cho doanh nghiệp và tất toán
tài khoản trong các trường hợp:
+ Có văn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội trả lời doanh nghiệp không đủ điều kiện để được cấp hoặc cấp
đổi giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động;
+ Có văn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội xác nhận việc doanh nghiệp đã chấm dứt hoạt động xuất khẩu
lao động, thanh lý hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài ký kết với
người lao động và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính với
Nhà nước theo quy định của pháp luật…
- Trách nhiệm của ngân hàng:
+ Thực hiện và hướng dẫn doanh nghiệp mở, sử dụng
và quản lý tài khoản ký quỹ đúng quy định tại Thông tư này và
pháp luật có liên quan;
+ Xác nhận việc ký quỹ hoạt động xuất khẩu lao
động cho doanh nghiệp; Trả lãi cho số dư tiền ký quỹ theo lãi
suất thoả thuận trong hợp đồng ký quỹ.
- Trách nhiệm của doanh nghiệp:
+ Nộp và duy trì đủ số tiền ký quỹ theo quy định
tại điểm 1 Mục này;
+ Thực hiện đúng quy định của Thông tư này và
pháp luật có liên quan về mở, sử dụng và quản lý tài khoản ký
quỹ.
Thông tư có hiệu lự c kể từ ngày
13/6/2004.
5. Thông tư số 45/2004/TT-BTC ban hành ngày 20/05/2004 của Bộ
Tài chính hướng dẫn xử lý lỗ phát sinh từ thời điểm xác định giá
trị doanh nghiệp đến thời điểm doanh nghiệp nhà nước chính thức
chuyển thành công ty cổ phần.
Theo Thông tư này, Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:
- Trường hợp doanh nghiệp có số lỗ nhỏ hơn giá trị thực tế phần
vốn nhà nước tại doanh nghiệp và không thuộc đối tượng Nhà nước
nắm giữ cổ phần chi phối: Thực hiện điều chỉnh phương án cổ phần
hoá trên cơ sở điều chỉnh giảm giá trị phần vốn của Nhà nước dự
kiến góp tại doanh nghiệp tương ứng với số lỗ còn lại, nếu không
đủ thì tiếp tục điều chỉnh giảm giá trị phần vốn Nhà nước dùng
để thực hiện chính sách ưu đãi về giá bán cổ phần và phương án
bán cổ phần ưu đãi.
- Trường hợp doanh nghiệp có số lỗ nhỏ hơn giá trị thực tế phần
vốn Nhà nước tại doanh nghiệp nhưng thuộc đối tượng Nhà nước cần
nắm giữ cổ phần chi phối: Điều chỉnh phương án cổ phần hoá theo
hướng điều chỉnh giảm quy mô vốn điều lệ và phương án bán cổ
phần ưu đãi cho người lao động, người sản xuất, cung cấp nguyên
liệu trên cơ sở đảm bảo tỷ lệ cổ phần nhà nước nắm giữ đủ để
thực hiện quyền chi phối.
- Trường hợp doanh nghiệp có số lỗ bằng hoặc lớn hơn giá trị
thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì chuyển sang hình
thức sắp xếp khác như giao, bán hoặc phá sản doanh nghiệp...
- Đối với doanh nghiệp cổ phần hoá có khoản lỗ phát sinh từ 500
triệu đồng trở lên thì phải có ý kiến thoả thuận bằng văn bản
của Bộ trưởng Bộ Tài chính trước khi xử lý…
- Đối với doanh nghiệp không thuộc đối tượng Nhà nước cần nắm
giữ cổ phần chi phối: Nếu số lỗ ít hơn số tiền thu từ bán phần
vốn nhà nước tại doanh nghiệp, được Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước (Quỹ sắp xếp doanh nghiệp) hoàn
trả một phần số tiền thu đã nộp quỹ để bù đắp.
Nếu số lỗ lớn hơn số tiền thu từ bán phần vốn nhà nước tại doanh
nghiệp nhưng nhỏ hơn giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
ở thời điểm trước khi cổ phần hoá thì: Được Quỹ sắp xếp doanh
nghiệp cấp lại toàn bộ số tiền thu từ bán phần vốn nhà nước tại
doanh nghiệp; Số lỗ còn lại (chênh lệch giữa số lỗ đề nghị xử lý
với số tiền được Quỹ hoàn trả) doanh nghiệp phải báo cáo cơ quan
quyết định cổ phần hoá để xem xét, quyết định việc điều chỉnh
giảm phần vốn Nhà nước góp tại doanh nghiệp và số lượng cổ phần
bán ưu đãi giảm giá (nếu vốn Nhà nước góp tại công ty cổ phần ít
hơn số lỗ còn lại); đồng thời triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất
thường để quyết định phát hành thêm cổ phiếu bù đắp số cổ phần
Nhà nước giảm hoặc điều chỉnh quy mô và cơ cấu vốn điều lệ, bầu
lại Hội đồng quản trị và điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh…
Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
6. Quyết định số 48/2004/QĐ-BTC ban hành ngày 24/05/2004 của Bộ
Tài chính về việc sửa đổi thuế suất thuế nhập khẩu của một số
mặt hàng thuộc nhóm 2710 trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.
Theo Quyết định này, Bộ Tài chính đã sửa đổi mức
thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi của một số mặt hàng thuộc nhóm
2710 quy định tại Quyết định số 224/2003/QĐ/BTC ngày 25/12/2003
của Bộ trưởng Bộ Tài chính thành mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu
đãi mới.
Theo đó, mức thuế suất ưu đãi được áp dụng đối với: Dầu có nguồn
gốc từ dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bi-tum (trừ
dạng thô) và các chế phẩm chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác,
có chứa từ 70% khối lượng trở lên là dầu có ngu ồn gốc từ dầu mỏ
hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bitum này là thành phần
cơ bản của các chế phẩm đó, trừ dầu thải… Cụ thể:
- Mức thuế suất: 0% áp dụng đối với các mặt hàng: Dầu nhẹ và các
chế phẩm; Xăng động cơ có pha chì, loại cao cấp; Xăng động cơ
không pha chì, loại cao cấp; Xăng động cơ có pha chì, loại thông
dụng; Xăng động cơ không pha chì, loại thông dụng; Xăng động cơ
khác, có pha chì; Xăng động cơ khác, không pha chì; Naptha,
reformate và các chế phẩm khác để pha chế xăng; Dầu nhẹ khác;
Loại khác; Dầu trung (có khoảng sôi trung bình) và các chế phẩm;
Dầu hoả thắp sáng; Dầu hoả khác, kể cả dầu hoá hơi; Nhiên liệu
diesel dùng cho động cơ tốc độ cao; Nhiên liệu diesel khác;
Nhiên liệu đốt khác…
- Mức thuế suất 3% áp dụng đối với các mặt hàng: Dầu dùng trong
bộ hãm thuỷ lực (dầu phanh)...;
- Mức thuế su ất 5% áp dụng đối với các mặt hàng:
Dầu biến thế hoặc dầu dùg cho bộ phận ngắt mạch; Mỡ bôi trơn;
Dầu bôi trơn dùng cho động cơ máy bay; Dầu gốc để pha chế dầu
nhờn; Dầu nguyên liệu để sản xuất muội than; Dầu thô đã tách
phần nhẹ; Dầu trung khác và các chế phẩm; Paraphin mạch thẳng;
Dung môi có hàm lượng chất thơm dưới 1%; Dung môi trắng (white
spirit)…
- Mức thuế suất 10% áp dụng đối với các mặt hàng: Xăng máy bay;
Nhiên liệu động cơ tuốc bin dùng cho hàng không (nhiên liệu phản
lực) có độ chớp cháy từ 23 độ C trở lên; Nhiên liệu động cơ tuốc
bi n dùng cho hàng không (nhiên liệu phản lực) có độ chớp cháy
dưới 23 độ C; Dầu bôi trơn khác…
- Mức thuế suất 20% áp dụng đối với các mặt hàng: Chứa biphenyl
đã polyclo hoá (PCBs), terphenyl đã polyclo hoá (PCTs) hoặc
biphenyl đã polybrom hoá (PBBs)…
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng
công báo và áp dụng cho các Tờ khai hàng nhập khẩu nộp cho cơ
quan Hải quan từ ngày
25/05/2004.
7. Chỉ thị số 17/2004/CT-TTG ban hành ngày 24/05/2004 của Thủ
tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh giải ngân nguồn vốn Hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA).
Tại đây, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:
- Các cơ quan chức năng phải rà soát ngay toàn bộ các văn bản
pháp quy có liên quan đến quản lý nhà nước về ODA và kiến nghị
Thủ tướng Chính phủ những giải pháp cần thiết để điều chỉnh, bổ
sung nhằm nâng cao tính pháp lý cũng như tính đồng bộ của các
văn bản này với các văn bản pháp quy khác liên quan tới công tác
quản lý đầu tư và xây dựng;
- Các Bộ, cơ quan và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
phải thực hiện ngay việc rà soát kế hoạch phân bổ vốn đầu tư năm
2004 để bảo đảm được vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA
- Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có
trách nhiệm tích cực giải quyết vấn đề cấp đất và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chương trình, dự án ODA
trên địa bàn; có kế hoạch xây dựng các khu tái định cư độc lập
để chủ động trong việc giải phóng mặt bằng, bảo đảm khởi công và
hoàn thành chương trình, dự án theo đúng tiến độ đã được thoả
thuận giữa ta và nhà tài trợ.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về ODA cần tăng cường phối hợp
với nhau và với Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố trong quá
trình quản lý và điều phối ODA, trong đó cần đề ra định chế
thích hợp để khuyến khích các đơn vị thực hiện tốt các dự án ODA
và cảnh báo các đơn vị yếu kém. Năng lực giải ngân các chương
trình, dự án ODA của cơ quan, đơn vị thực hiện cần được coi là
tiêu chí để thẩm định và phê duyệt chương trình, dự án của cơ
quan, đơn vị đó…
Theo đó, Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối
hợp chặt chẽ trong quá trình chỉnh sửa Nghị định số 22/1998/NĐ-CP
và dự thảo Nghị định về thi hành Luật Đất đai để trình Chính phủ
ban hành ngay sau khi Luật Đất đai sửa đổi có hiệu lực.
Bộ Xây dựng nghiên cứu bổ sung các nội dung liên quan đến phê
duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán của các dự án đầu tư sử
dụng nguồn vốn ODA vào các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật
Xây dựng theo hướng chặt chẽ song tránh phiền hà, thủ tục rườm
rà.
Trong tháng 6 năm 2004, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các
cơ quan quản lý nhà nước về ODA và các nhà tài trợ xây dựng kế
hoạch hành động về hài hoà quy trình và thủ tục ODA, tập trung
vào các khâu thẩm định và phê duyệt chương trình, dự án, đấu
thầu, kế hoạch giải ngân, theo dõi và đánh giá chương trình, dự
án, chế độ báo cáo về tình hình thực hiện chương trình, dự án
ODA.
8. Công văn số 5524/TC-TCHQ ban hành ngày 24/05/2004 của Tổng
cục Hải quan về việc thủ tục, hồ sơ xử lý hàng nhập khẩu không
thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng.
Theo đó, thủ tục, hồ sơ hàng nhập khẩu không
thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu và
thủ tục giao nhận sản phẩm gia công chuyển tiếp được hướng dẫn
như sau:
Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại (bao gồm cả hàng
hoá nhập khẩu thuộc nguồn vốn ODA không hoàn lại) phải có văn
bản xác nhận của Vụ Tài chính đối ngoại - Bộ Tài chính.
Hàng kinh doanh theo phương thức chuyển khẩu, phải có: Hợp đồng
mua hàng, hợp đồng bán hàng (bản sao có xác nhận của doanh
nghiệp); Văn bản chấp thuận của Bộ Thương mại đối với hàng hóa
thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu (bản sao có xác nhận của công
chứng hoặc Bộ Thương mại); Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có
đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu (bản sao có xác n hận
của doanh nghiệp)…
Hàng quá cảnh và mượn đường qua lãnh thổ Việt Nam: Đối với hàng
quá cảnh đi thẳng phải có Bản kê khai hàng hoá quá cảnh; Đối với
hàng quá cảnh có lưu kho trong khu vực cửa khẩu hoặc thay đổi
phương tiện vận tải phải có tờ khai hải quan hàng hoá quá cảnh
và bản kê khai hàng hóa quá cảnh;
Đối với hàng hoá quá cảnh có lưu kho ngoài khu vực cửa khẩu hoặc
đi qua lãnh thổ đất liền phải có đủ những văn bản sau: Văn bản
cho phép quá cảnh của Bộ Thương mại hoặc cơ quan được Bộ Thương
mại uỷ quyền; Tờ khai hải quan hàng ho á quá cảnh và bản kê khai
hàng hoá quá cảnh; Nếu hàng quá cảnh là ô tô tự hành phải có
thêm giấy phép lưu hành tạm thời do Công an tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, nơi có cửa khẩu nhập hàng hoá cấp;
Riêng đối với hàng hoá của Cộng hoà Nhân dân Tnung Hoa, Cộng hoà
Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia quá cảnh lãnh thổ
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải thực hiện theo Quyết
định của Bộ trưởng Bộ Thương mại ban hành quy chế về hàng hoá
của các nước, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam. Cụ thể là: Quyết định
số 0305/2001/QĐ-BTM ngày 26/03/200l; Quyết định số 0938/2000/QĐ-BTM
ngày 30/06 /2000; Quyết định số 1732/2000/QĐ-BTM ngày
13/12/2000;
- Đối với các hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế
GTGT đồng thời cũng thuộc đối tượng được miễn thuế nhập khẩu,
xét miễn thuế nhập khẩu hoặc được xét hoàn thuế nhập khẩu như:
quà tặng cho cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn
vị vũ trang nhân dân; quà biếu quà tặng cho cá nhân ở Việt Nam;
đồ dùng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn
trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý
miễn thuế, hàng là đồ dùng của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài khi về nước mang theo; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu;
hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên vật liệu nhập khẩu để
sản xuất, gia công hàng xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất gia
công xuất khẩu đã ký với nước ngoài thì thủ tục, hồ sơ để không
thu thuế GTGT được thực hiện đúng như thủ tục, hồ sơ miễn thuế,
xét miễn thuế, xét hoàn thuế nhập khẩu…
Về Thủ tục giao nhận sản phẩm gia công chuyển tiếp và phiếu
chuyển tiếp để khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa gia
công xuất khẩu chuyển tiếp thì: Thực hiện theo đúng quy định về
thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ
ban hành kèm theo Quyết định số 153/2002/QĐ-BTC ngày 17/12/2002
của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
9. Ngày 25/5/2004, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số
03/2004/TT-NHNN, hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc góp
vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh
nghiệp Việt Nam.
Theo đó, để thực hiện việc góp vốn, mua cổ phần trong các
doanh nghiệp Việt Nam, Nhà đầu tư nước ngoài phải mở một tài
khoản “Góp vốn, mua cổ phần bằng đồng Việt Nam” tại một Ngân
hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam. Mọi giao dịch chuyển
tiền để thực hiện việc góp vốn, mua, bán cổ phần, chuyển nhượng
vốn góp, thu và sử dụng cổ tức, lợi tức được chia, mua ngoại tệ
tại các Ngân hàng được phép để chuyển ra nước ngoài và các giao
dịch khác liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần trong
doanh nghiệp Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài đều phải thực
hiện thông qua tài khoản này...
Trong vòng 02 ngày làm việc kể từ khi mở tài khoản góp vốn, mua
cổ phần tại Ngân hàng Thương mại, nhà đầu tư nước ngoài phải
đăng ký tài khoản góp vốn, mua cổ phần với Ngân hàng Nhà nước (Vụ
Quản lý Ngoại hối). Hồ sơ gồm: giấy xin đăng ký tài khoản góp
vốn, mua cổ phần, chứng từ chứng minh địa vị pháp lý của nhà đầu
tư nước ngoài, xác nhận của Ngân hàng thương mại về việc nhà đầu
tư nước ngoài mở tài khoản góp vốn, mua cổ phần tại ngân hàng
mình. Nội dung xác nhận bao gồm: Tên, địa chỉ, quốc tịch của chủ
tài khoản, số hiệu tài khoản, số dư tài khoản...
10. Công văn số 1568/TCT/HTQT ban hành ngày 25/05/2004 của Tổng
cục Thuế hướng dẫn về việc thực hiện thí điểm cơ chế tự kê khai,
tự nộp thuế.
Theo công văn này, Tổng cục Thuế có hướng dẫn như
sau: để việc thực hiện thí điểm cơ chế này diễn ra thuận lợi,
chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện như: thuế
GTGT chỉ có 1 mức thuế suất, ít miễn giảm trong thuế TNDN...,
các qui định về kê khai, nộp thuế thuận lợi, phù hợp với điều
kiện kinh doanh của đối tượng nộp thuế…
- Đối với thuế GTGT: đối tượng nộp thuế tự kê khai, nộp tờ khai
(không kèm theo bảng kê) cho cơ quan thuế và nộp tiền thuế vào
Ngân sách Nhà nước. Thời hạn kê khai thuế được qui định cùng với
thời hạn nộp thuế (ngày 25 của tháng sau).
Trường hợp có sai sót về số liệu đã kê khai (do cơ quan thuế
phát hiện hoặc đối tượng nộp thuế tự phát hiện) cơ sở kinh doanh
kê khai điều chỉnh tại tờ khai của tháng phát hiện sai sót,
không phải chờ đến cuối năm mới xử lý. Việc quyết toán thuế GTGT
cuối năm sẽ được chuyển thành hình thức kê khai điều chỉnh, bổ
sung tại tờ khai tháng.
- Đối với thuế TNDN: ngày 25 của tháng đầu quí sau, đối tượng
nộp thuế sẽ xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp hàng
quí trên cơ sở doanh thu của quí kê khai và tỷ lệ thu nhập trên
doanh thu của năm trước. Theo cách này, số thuế nộp hàng quí
tương đối sát với kết quả kinh doanh của đối tượng nộp thuế (vì
đến thời gian này đối tượng nộp thuế đã có thể có khá đủ doanh
thu quí), đảm bảo yêu cầu thu Ngân sách, tránh tình trạng đối
tượng nộp thuế tự xác định mức tạm nộp thấp, đồng thời đạt được
mục tiêu đơn giản hoá, giảm nhẹ công việc cho cả đối tượng nộp
thuế và cơ quan thuế đồng thời với việc thay đổi cách xác định
số thuế tạm nộp hàng quí như trên, quyết toán thuế TNDN hàng năm
sẽ chuyển thành tờ khai thuế TNDN năm. Trong thời hạn 90 kể từ
khi kết thúc năm tài chính đối tượng nộp thuế tự kê khai số thuế
TNDN phải nộp theo mẫu tờ khai thuế do Bộ Tài chính ban hành,
đồng thời nộp đủ số thuế còn thiếu vào NSNN; nếu nộp thừa thì
được trừ vào số thuế phải nộp của kỳ nộp thuế tiếp theo.
Bên cạnh đó, cơ quan thuế có đủ thẩm quyền về điều tra, khởi tố,
cưỡng chế thuế để xử phạt nghiêm, kịp thời những trường hợp gian
lận, trốn thuế, chây ỳ, nợ thuế, thu hồi đủ tiền thuế cho NSNN
và đảm bảo sự công bằng trong quản lý thuế…
Tuy nhiên, chưa thể triển khai thực hiện ngay được cơ chế này
trên toàn quốc, mà phải thực hiện thí điểm để rút kinh nghiệm,
đồng thời chuẩn bị dần, đủ các điều kiện để từng bước mở rộng và
tiến đến triển khai trong toàn quốc…
Lộ trình thực hiện như sau: từ ngày 1/1/2004, thí điểm áp dụng
đối với một số cơ sở kinh doanh đăng ký kê khai, nộp thuế tại
Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Ninh; từ năm 2005:
tiến hành sơ kết tình hình thực hiện thí điểm và mở rộng thí
điểm áp dụng đối với các cơ sở kinh doanh thuộc một số Cục thuế
khác; năm 2007: tổ chức, tổng kết, đánh giá, báo cáo Chính phủ
và Quốc hội chuẩn bị áp dụng trên phạm vi toàn quốc…
11. Ngày 25/5/2004, Bộ Bưu chính - Viễn thông và Bộ Tài chính đã
ban hành Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-BBCVT-BTC, hướng dẫn
về trách nhiệm, quan hệ phối hợp trong công tác kiểm tra, giám
sát hải quan đối với thư, bưu phẩm, bưu kiện xuất khẩu, nhập
khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính và dịch vụ chuyển phát thư.
Theo đó, thư xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính,
dịch vụ chuyển phát thư được giám sát hải quan theo hình thức
niêm phong hải quan đối với bao bì chứa đựng thư.
Trong quá trình vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện chuyển cửa khẩu
phải đảm bảo nguyên trạng bưu phẩm, bưu kiện và niêm phong hải
quan. Trường hợp xảy ra tai nạn, sự cố bất khả kháng phải báo
ngay cho cơ quan Hải quan hoặc Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị
trấn nơi gần nhất để lập biên bản xác nhận...
Bưu phẩm (trừ thư), bưu kiện xuất khẩu, nhập khẩu được hoàn lại
các khoản thuế đã nộp bao gồm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) trong
các trường hợp sau đây: không phát được cho người nhận phải
chuyển hoàn toàn về nước gốc, có hàng hoá thuộc loại hình hàng
miễn thuế...
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng
Công báo.
12. Nghị định số 126/2004/NĐ-CP ban hành ngày 26/05/2004 của
Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng,
quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà.
Nghị định này gồm có 6 chương, 58 điều, về xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý công
trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà: tổ chức, cá nhân
mua nhà ở nhưng không làm thủ tục đăng ký trước bạ, sang tên sau
6 tháng, kể từ thời điểm hợp đồng mua bán nhà ở được ký kết, bị
phạt từ 1 đến 3 triệu đồng…
- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng
đến 200.000 đồng đối với chủ đầu tư tổ chức xây dựng bộ phận
công trình, công trình có một trong các hành vi: Vi phạm quy
hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và công bố;
Xây dựng trên đất chưa chuyển đổi mục đích sử dụng;
- Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với chủ đầu tư
tổ chức xây dựng bộ phận công trình, công trình có một trong các
hành vi: Xây dựng trên đất lấn chiếm; Xây dựng vi phạm chỉ giới
đường đỏ; Vi phạm chỉ giới xây dựng…
- Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với chủ đầu tư
tổ chức xây dựng bộ phận công trình, công trình trong khu vực
cấm xây dựng….
N goài các hình thức xử phạt quy định tại khoản 1, khoản 2 và
khoản 3 Điều này, chủ đầu tư vi phạm còn bị xử phạt bổ sung và
áp dụng một hoặc nhiều biện pháp sau: Tịch thu tang vật, phương
tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; Buộc khôi phục lại tình
trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc
buộc tháo dỡ bộ phận công trình, công trình vi phạm; Buộc khắc
phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra….
Chính phủ cũng quy định mức phạt tối đa lên đến 70 triệu đồng
đối với chủ đầu tư tổ chứ c xây dựng bộ phận công trình, công
trình có một trong các hành vi: sử dụng sai quy chuẩn xây dựng;
sai tiêu chuẩn xây dựng hoặc không thực hiện giám sát thi công
xây dựng theo quy định làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình
hoặc gây sự cố công trình…
Nhà thầu xây dựng thực hiện không đúng quy trình, quy phạm xây
dựng gây lún, rạn nứt các công trình lân cận; không có: biển báo
công trường, biển báo an toàn, hàng rào bảo vệ, trang bị đủ
phương tiện bảo hộ lao động cho người lao động... có thể bị phạt
từ 1 - 8 triệu đồng…
Hành vi kéo dài thời gian hoàn thiện hồ sơ, tài liệu phục vụ cho
công tác ngh iệm thu, thanh toán, quyết toán công trình, nghiệm
thu khống, sai khối lượng... của nhà thầu xây dựng có thể bị
phạt từ 10 - 25 triệu đồng…
Đối với hành vi hoạt động tư vấn xây dựng sai chứng chỉ hành
nghề, tư vấn xây dựng nhận thầu tư vấn xây dựng vượt quá năng
lực... của tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn xây dựng có thể bị
phạt từ 3 - 15 triệu đồng…
Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo
13. Ngày 28/5/2004, Bộ Y tế ra Thông tư số 06/2004/TT-BYT
hướng dẫn sản xuất gia công thuốc.
Thông tư áp dụng cho các đối tượng sau:
+ Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sản xuất dược phẩm, Viện, Trung tâm
nghiên cứu dược phẩm hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt
Nam
+ Nhà sản xuất nước ngoài có giấy phép hoạt động trong lĩnh vực dược tại
Việt Nam
Thông tư điều chỉnh các hoạt động sau:
+ Hoạt động sản xuất gia công các thuốc có số đăng ký lưu hành tại Việt
Nam (trừ
các thuốc có các hoạt chất, dạng bào chế nằm trong danh mục
không nhận hồ sơ đăng ký lại đối với thuốc nước ngoài được Bộ Y
tế ban hành)
+ Hoạt động sản xuất gia công thuốc chưa có số đăng ký lưu hành tại Việt
Nam: Đối với thuốc nước ngoài, bên đặt gia công phải nhận
lại toàn bộ sản phẩm sau khi gia công; Đối với thuốc trong nước,
bên đặt gia công phải xuất khẩu toàn bộ sản phẩm sau khi gia
công.
Thông tư quy định cụ thể đối với bên đặt gia công sản xuất thuốc, bên
nhận gia công sản xuất thuốc (điều kiện để được đứng tên là Bên
đặt gia công/ Bên nhận gia công, trách nhiệm và quyền), hợp đồng
sản xuất gia công thuốc, đăng ký thuốc sản xuất gia công).
14. Quyết định số 648/2004/QĐ-NHNN ban hành ngày 28/05/2004 của
Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định
679/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 1/7/2002
về việc ban hành một số quy định liên quan đến Giao dịch ngoại
tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ.
Theo đó, Quyết định số 679/2002/QĐ-NHNN của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước ngày
1/7/2002 về việc ban hành một số quy định liên quan đến giao
dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh
ngoại tệ được sửa đổi, bổ sung một số điều như sau:
"Điều 2. Kỳ hạn của các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi được sửa đổi,
bổ sung như sau:
1.
Các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ được giao dịch
kỳ hạn, hoán đổi giữa đồng Việt
Nam
với các ngoại tệ trong kỳ hạn từ 3 (ba) ngày đế n 365 (ba trăm
sáu mươi lăm) ngày kể từ ngày ký hợp đồng giao dịch;
2.
Kỳ hạn của các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi giữa các ngoại tệ với
nhau do các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ và
khách hàng thoả thuận."
"Điều 3. Nguyên tắc xác định tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch kỳ
hạn, hoán đổi được sửa đổi, bổ sung như sau:
1. Tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ và khách hàng
thoả thuận mức tỷ giá kỳ hạn giữa Đồng Việt Nam với Đôla Mỹ. Tỷ
giá kỳ hạn này không được vượt quá mức tỷ giá được xác định trên
cơ sở:
(i)
tỷ giá giao ngay vào ngày ký hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi;
(ii)
chênh lệch giữa hai mức lãi suất hiện hành là lãi suất cơ bản của
Đồng Việt
Nam
(tính theo năm) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố và lãi
suất mục tiêu của Đôla Mỹ do Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ công bố
(Fed Funds Target Rate); và
(iii)
kỳ hạn của hợp đồng.
2.
Tỷ giá kỳ hạn giữa Đồng Việt
Nam
với các ngoại tệ khác (ngoài USD) và tỷ giá giữa các ngoại tệ
với nhau do Tổng Giám đốc (Giám đốc) các Tổ chức tín dụng được
phép kinh doanh ngoại tệ và khách hàng thoả thuận."
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng
Công báo.
Các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi đã ký kết trước ngày Quyết định
này có hiệu lực thì được thực hiện theo quy định của pháp luật
khi các hợp đồng đó được ký kết.
15. Ngày 31/5/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 129/2004/NĐ-CP
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế
toán áp dụng trong hoạt động kinh doanh.
Đối tượng áp dụng Nghị định này bao gồm:
1. Các tổ chức hoạt động kinh doanh gồm: Doanh nghiệp nhà nước, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh
nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh
của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, văn phòng
đại diện của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, hợp
tác xã, hộ kinh doanh cá thể và tổ hợp tác.
2. Người làm kế toán, người hành nghề kế toán, người khác có liên quan
đến kế toán thuộc hoạt động kinh doanh.
Nghị định quy định vê một số vấn đề cụ thể như: Đối tượng kế toán thuộc
hoạt động kinh doanh, mẫu chứng từ kế toán, chứng từ điện tử và
các vấn đề liên quan, hoá đơn bán hàng, các vấn đề liên quan báo
cáo tài chính, vấn đề liên quan tài liệu kế toán, kế toán, kế
toán trưởng, doanh nghiệp dịch vụ kế toán…
16. Quyết định số 0674/2004/QĐ-BTM ngày 31/05/2004 của Bộ trưởng
Bộ Thương mại về giá định hướng xăng dầu tăng thêm 2%.
Quyết định này ban hành Danh mục các địa phương xa cảng quốc tế
tiếp nhân xăng dầu chi phí kinh doanh cao, giá định hướng xăng
dầu tăng thêm 2%.
Danh mục ban hành kèm theo quyết định này gồm 37 tỉnh, 49 huyện, thị trấn,
thị xã thuộc các tỉnh và tất cả các đảo của Việt
Nam.
17. Thông tư số 47/2004/TT-BTC ban hành ngày 31/05/2004 của Bộ
Tài chính hướng dẫn thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát
Hải quan và chính sách thuế đối với hàng hóa buôn bán qua Biên
giới với các nước có chung biên giới theo Quyết định số
252/2003/QĐ-TTG ngày 24/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo Thông tư này, Bộ Tài chính đã hướng dẫn như
sau:
- Đối với hàng hoá buôn bán qua biên giới: Phải nộp thuế và lệ
phí (nếu có) theo qui định của Pháp luật;
- Đối với hàng hoá trao đổi, mua bán của cư dân biên giới: Chỉ
được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá do cư dân nước có
chung biên giới sản xuất;
- Định mức miễn thuế nhập khẩu: không quá
500.000đồng/1người/1ngày. Hàng hoá là sản phẩm không thể cắt rời,
nếu giá trị một đơn vị sản phẩm vượt mức qui định, thì phải nộp
thuế phần vượt (kể cả vật nguyên con, nguyên chiếc, nguyên cái,
nguyên bộ).
- Hàng hoá không do cư dân nước có chung biên giới sản xuất
không được miễn thuế nhập khẩu.
- Hàng hoá do các đối tượng không phải là cư dân biên giới mua
bán, trao đổi không được miễn thuế nhập khẩu.
Riêng hộ kinh doanh thuộc các tỉnh tiếp giáp biên giới và của
nước có chung biên giới kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa
khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu chỉ phải xuất trình 02 loại
chứng từ sau: giấy đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hoá hoặc
thông báo miễn kiểm tra chất lượng hàng hoá do cơ quan kiểm tra
Nhà nước về chất lượng cấp (đối với hàng hoá phải kiểm tra chất
lượng) và giấy đăng ký kiểm dịch do cơ quan kiểm dịch cấp (đối
với hàng hoá nhập khẩu thuộc diện phải kiểm dịch)…
Việc cấp giấy phép cho xe Việt
Nam
tạm xuất-tái nhập có thời hạn thì được hứong dẫn thực hiện như
sau:
- Trường hợp xe tạm xuất - tái nhập qua cùng một cửa khẩu thì
Chi cục trưởng Hải quan cửa khẩu cho phép bằng cách ghi trực
tiếp lên tờ khai nhập xuất cảnh Việt
Nam
của lái xe.
- Trường hợp xe tạm xuất - tái nhập không cùng một cửa khẩu thì
chủ xe hoặc lái xe phải có văn bản đề nghị (nội dung gồm: tên
chủ xe, tên lái xe, loại xe, nhãn hiệu xe, số khung, số máy,
biển kiểm soát, cửa khẩu tạm xuất, cửa khẩu tái nhập, thời gian
tạm xuất, thời gian tái nhập) gửi Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh,
thành phố nơi có cửa khẩu xe tạm xuất để được cấp phép.
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng
Công báo.
18. Nghị định số 127/2004/NĐ-CP ban hành ngày 31/05/2004 của
Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
khoa học và công nghệ.
Theo Nghị định số 127/2004/NĐ-CP của Chính phủ
ban hành ngày
31/5/2004, các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động khoa
học và công nghệ (KH-CN) có thể bị xử phạt cảnh cáo và phạt tiền
từ 200 ngàn đồng đến 100 triệu đồng. Trong đó:
-
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi
tiến hành nghiên cứu khoa học và công nghệ trái đạo đức, thuần
phong mỹ tục;
-
Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp
hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 của Điều này gây hậu
quả xấu cho xã hội;
-
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi
hoạt động khoa học và công nghệ gây thiệt hại đến tài nguyên,
môi trường và sức khoẻ con người, làm lây lan dịch bệnh, gây hại
cho động, thực vật;
-
Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi
lợi dụng hoạt động khoa học để xuyên tạc đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phá hoại khối đại đoàn kết
toàn dân….
Hành vi chiếm đoạt kết quả hoạt động KH-CN có thể
bị phạt từ 10 - 20 triệu đồng, người vi phạm buộc phải cải chính
công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Nếu hành vi
chiếm đoạt gây hậu quả xấu về tinh thần và vật chất cho cá nhân,
tổ chức, sẽ phạt tiền 20 - 40 triệu đồng. Ngoài ra, sẽ kèm thêm
hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động KH-CN từ 12 đến 18 tháng...
Hành vi vi phạm về chuyển giao, chuyển nhượng, cung
cấp thông tin về kết quả hoạt động khoa học và công nghệ: Phạt
tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi
chuyển giao, chuyển nhượng, cung cấp thông tin về kết quả hoạt
động khoa học và công nghệ do cá nhân, tổ chức tạo ra trái quy
định tại các văn bản quản lý nhà nước do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành…
- Phạt tiền 5 - 15 triệu đồng đối với hành vi gian lận, giả mạo
để được hưởng chính sách ưu đãi về mặt tài chính, tín dụng, đất
đai và các ưu đãi trong hoạt động KH-CN...
- Đối với hành vi vi không đăng ký, giao nộp kết
quả thực hiện nhiệm vụ KH-CN có sử dụng ngân sách nhà nước, sẽ
bị phạt tiền từ 2 - 5 triệu đồng... Nghị định này có hiệu lực
sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo
19. Công văn 2480/TCHQ-KTSTQ ra ngày 31/5/2004, về việc kiểm tra
thủ tục miễn thuế đối với hàng thuộc diện ưu đãi đầu tư
Theo CV này, Tổng cục Hải quan hướng dẫn: khi làm thủ tục
miễn thuế cho các lô hàng này phải kiểm tra các dự án đầu tư
được cấp ưu đãi có đúng đối tượng là dự án thuộc Danh mục A, B,
C...
Đối với hàng hoá nhập khẩu phải kiểm tra xem: trong nước chưa
sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu chất lượng...
Khi kiểm tra, nếu phát hiện việc cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu
tư và mức đầu tư không đúng quy định thì tạm thời không thực
hiện miễn thuế, đồng thời thông báo cho đối tượng biết và nơi
cấp Giấy chứng nhận điều chỉnh hoặc rút bỏ toàn bộ ưu đãi đầu tư...
20. Công văn số 2479/TCHQ-KTTT ra ngày 31/5/2004, Tổng cục
Hải quan hướng dẫn Xử lý thuế đối với hàng nhập khẩu buộc phải
tiêu hủy
Theo CV này, Tổng Cục Hải qun hướng dẫn thực hiện như sau: hàng hóa nhập
khẩu còn nằm trong sự giám sát của cơ quan Hải quan, nếu đã mở
tờ khai, có thông báo thuế nhưng khi cơ quan Hải quan kiểm tra
để cho thông quan phát hiện có vi phạm buộc phải tiêu hủy và đã
tiêu hủy thì ra quyết định không phải nộp thuế nhập khẩu, thuế
giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Việc xử phạt
vi phạm đối với hành vi nhập khẩu hàng hóa không đúng với quy
định, buộc phải tiêu hủy thực hiện theo các quy định của pháp
luật hiện hành...
21. Công văn số 2491/TM-TNTN ngày 31/05/2004 của Bộ Thương mại
Về thuế nhập khẩu thép xây dựng.
Trong thời gian tới mặt hàng thép có thể tăng thuế nhập khẩu,
cụ thể như: nhập khẩu mặt hàng thép xây dựng thành phẩm trong
ASEAN là 10%, ngoài ASEAN là 20%.
22. Quyết định số 49/2004/QĐ-BTC ban hành ngày 31/5/2004, Bộ
trưởng Bộ Tài chính về việc miễn thuế nhập khẩu vàng
Theo
Quyết định này thì miễn thuế nhập khẩu vàng tiêu chuẩn quốc tế
do Ngân hàng nhà nước Việt
Nam nhập khẩu
hoặc uỷ thác nhập khẩu bổ sung cho Quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước...
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
23. Quyết định số 0676/2004/QĐ-BTM ngày 31/5/2004 của Bộ Thương
mại Quy định mức thù lao đại lý bán xăng dầu
Quyết định này quy định tạm thời mức thù lao tối đa đại lý
các mặt hàng xăng dầu: (xăng, diesel, dầu hoả) đối với từng khu
vực theo phụ lục đính kèm, áp dụng trong thời kỳ giá xăng dầu
thế giới tăng cao Nhà nước phải thực hiện cơ chế bù lỗ đối với
|