Banner
Left Menu
Horizontal Menu

Tư vấn Pháp luật >> Văn bản mới

Tóm tắt văn bản pháp luật 1/2003

Ngày 25 tháng 12 năm 2002, Bộ Tài chính ban hành thông tư số 116/2002/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 108/2002/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ về việc băi bỏ quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ (%) đối với một số hàng hoá dịch vụ.

Theo đó, Bộ Tài chính hướng dẫn băi bỏ quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ (%) đối với một số hàng hoá dịch vụ như sau: Hàng hoá dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT mua của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính thực tiếp trên GTGT có hoá đơn bán hàng (nay là hoá đơn bán hàng thông thường); hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa qua chế biến mua của cơ sở sản xuất không chịu thuế GTGT ở khâu sản xuất sử dụng hoá đơn GTGT; hàng hoá là nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến; đất đá, cát, sỏi, các phế liệu mua của người bán không qua hoá đơn, có bảng kê (nay là hoá đơn thu mua hàng nông, lâm, thuỷ sản đối với hàng hoá là nông, lâm, thuỷ sản); tiền bồi thường kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT (tính trên giá trị bồi thường bảo hiểm) thuộc trách nhiệm bồi thường của cơ sở kinh doanh bảo hiểm.

Đối với hàng hoá chịu thuế TTĐB cơ sở kinh doanh thương mại mua của cơ sở sản xuất để bán ra có hoá đơn bán hàng vẫn áp dụng khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ 1% hướng dẫn tại điểm 1 mục IV thông tư số 82/2002/TT-BTC. Không áp dụng khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định tại điểm này đối với trường hợp cơ sở kinh doanh thương mại mua hàng hoá chịu thuế TTĐB của cơ sở sản xuất để xuất khẩu.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2003. Các quy định trái với hướng dẫn tại thông tư này đều băi bỏ.

 

Ngày 27 tháng 12 năm 2002, Bộ Thương Mại ra Công văn số 5437/TM-AM về việc báo cáo t́nh h́nh thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Theo công văn này, tổng kim ngạch thương mại song phương trong 10 tháng đầu năm 2002 đạt 2.201,4 triệu USD, tăng 82,2% số với 1.208,4 triệu USD của cùng ḱ năm 2001. Trong đó, xuất khẩu của Việt nam sang Hoa Kỳ tăng nhanh, 10 tháng đầu năm 2002 đạt 1.834,1 triệu USD, tăng 104,4% số với 897,2 triệu USD của cùng ḱ năm 2001. Các mặt hàng có kim ngạch lớn và có mức tăng trưởng cao là:  dệt may, đạt 674,8 triệu USD, tăng 1764,1%; hải sản đạt 549,2 triệu USD, tăng 30,0%; giàu dép các loại, đạt 156,5 triệu USD, tăng 74,7%…  Mặt khác, xuất khẩu của Hoa kỳ sang Việt Nam cũng có những bước tăng trưởng, 10 tháng đầu năm 2002 đạt 367,4 triệu USD, tăng 18,1% số với 311,2 triệu USD của cùng ki năm 2001.

Trong quan hệ đầu tư, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính từ ngày 01/01/1988 đến ngày 10/10/2002, Hoa Kỳ xếp thứ 13 trên 62 nước và vùng lănh thổ đầu tư vào Việt Nam, có 183 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đầu tư là 1.677,5 triệu USD, thu hút 5.331 lao động trực tiếp. Số dự án c̣n hiệu lực là 147 sự án với tổng số vốn là 1.023 triệu USD. Trong 6 tháng đầu năm 2002, sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa kỳ có hiệu lực, Hoa kỳ đă có 23 dự án mới với tổng số vốn đầu tư khoảng 82 triệu USD.

Trong thời gian tới, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ được triển khai theo những hướng sau: (1) Tiếp tục thực hiện những nội dung cam kết theo lộ tŕnh của năm thứ nhất (phụ lục 1) (2) Xây dựng chương tŕnh triển khai thực hiện các cam kết của năm thứ hai (phụ lục 2) bao gồm áp dụng hệ thống đăng kư nhăn hiệu hàng hoá, áp dụng hệ thống đăng kư bằng sáng chế,bảo hộ quyền tác giả và các quyền có liên quan bao gồm tất cả các loại chương tŕnh máy tính hoặc sưu tầm tư liệu, bảo hộ các bí mật thương mại khỏi những cạnh tranh không lành mạnh (3) Tập hợp tất cả các vướng mắc của doanh nghiệp khi vào thị trường Hoa Kỳ để có ư kiến với Đại diện thương mại và Bộ Thương Mại Hoa Kỳ.

  

Ngày 27 tháng 12 năm 2002, Thống đốc NHNN Việt Nam đă ra Quyết định số 1433/2002/QĐ-NHNN công bố mức lăi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam: 0,62%/tháng và 7,44%/năm. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2003, thay thế cho Quyết định 1324/2002/QĐ-NHNN ngày 28 tháng 11 năm 2002.

 

In, phát hành, sử dụng và quản lư hoá đơn - Hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của CP về việc in, phát hành, sử dụng, quản lư hoá đơn, BTC ban hành Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2002. Thông tư quy định rơ đối tượng, phạm vi áp dụng việc in, phát hành, sử dụng và quản lư hoá đơn cũng như loại, h́nh thức và nội dung của hoá đơn. Đặc biệt, đối với hoá đơn tự in, tổ chức, cá nhân đặt in các loại hoá đơn được phép tự in phải căn cứ mẫu hoá đơn đă được duyệt có xác nhận của người đứng đầu tổ chức, cá nhân trên mẫu hoá đơn tự in. Khi in phải có hợp đồng in hoá đơn với tổ chức nhận in. Nghiêm cấm đặt in hoá đơn ngoài hợp đồng đă kư kết.

 

Tổ chức, cá nhân sau 5 ngày đăng kư lưu hành mẫu hóa đơn tự in phải thông báo phát hành bằng văn bản (kèm theo mẫu hoá đơn) gửi cơ quan thuế quản lư và phải dán thông báo phát hành tại trụ sở, nơi bán hàng, nơi giao dịch.

 

Thời hạn kê khai khấu trừ thuế GTGT - Theo Công văn số 42 TCT/NV2 ngày 03 tháng 01 năm 2003 của TCT, thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đă xuất dùng hay c̣n để trong kho. Nếu hoá đơn GTGT hoặc chứng từ nộp thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh trong tháng nhưng chưa kê khai kịp trong tháng th́ được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau với thời gian tối đa là 3 tháng.

 

 

Quy định mới về thời giờ làm việc - Ngày 27 tháng 12 năm 2002, CP đă ban hành Nghị định số 109/2002/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 195/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi. Theo đó, tổng số giờ làm thêm trong 1 năm có thể tới 300 giờ (trong trường hợp đặc biệt) thay cho quy định 200 giờ trước đây. Tuy nhiên thời gian làm thêm giờ như trên phải tuân theo những điều kiện chặt chẽ trong Nghị định.

 

Quy định về tiền lương - Để đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng lao động cũng như người lao động, kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2003, người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức sẽ áp dụng tiền lương theo quy định của Nghị định 114/2002/NĐ-CP được CP ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2002.

 

Nghị định 114 quy định và hướng dẫn chi tiết về mức lương tối thiểu, hệ thống thang lương, bảng lương, định mức lao động cũng như chế độ trả lương, tiền thưởng cho người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng. Đặc biệt, Nghị định quy định rơ về h́nh thức trả lương, cách tính lương cho người lao động làm thêm giờ, thêm việc. Trường hợp người lao động làm thêm giờ vào ngày thường, được trả ít nhất bằng 150%, vào ngày nghỉ hàng tuần theo qui định, ít nhất bằng 200%, vào ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương theo qui định, được trả ít nhất bằng 300% lương thực trả.

Advertisement

Công ty tư vấn luật LEADCO

 

  

Footer

Cá nhân và tổ chức sử dụng thông tin của SMEnet phải ghi rơ địa chỉ http://www.SMEnet.com.vn

Góp ư xin gửi thư về webmaster@smenet.com.vn

Web site này do Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) hợp tác phát triển