Home-Left Menu
Home-HorizontalMenu

BẢN TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 36
(Tuần từ 22/05 - 28/05/2006)

 

(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật LEADCO)

Địa chỉ: 85 Trần Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email: leadco@hn.vnn.vn

 

Để luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy bấm vào đây. Để được tư vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy bấm vào đây.

 

 

1. Lại ṿng vo bản quyền ảnh và tranh...

Sau khi công bố dự thảo Quy chế sử dụng ảnh trong sáng tác tranh cổ động với quy định tác giả tranh cứ việc thoải mái dùng ảnh mà không phải xin phép, thậm chí không phải trả tiền nhuận trưng bày, th́ ngày 11-5 vừa qua, Vụ Mỹ thuật và Nhiếp ảnh (Bộ VH-TT) lại "tung” ra dự thảo quy chế mới với nội dung hoàn toàn trái ngược... 100% so với bản cũ!

Có cần "mua dây buộc ḿnh"?

Nói "trái ngược 100%" so với dự thảo trước là v́ sau khi nhận được"phản hồi từ báo chí, Vụ Mỹ thuật và Nhiếp ảnh đă "sửa sai" bằng việc công bố dự thảo quy chế mới quy định sử dụng ảnh (trong thời gian bảo hộ) vào tranh cổ động th́ phải xin phép, có thỏa thuận bằng văn bản của tác giả hoặc chủ sở hữu ảnh, phải ghi rơ họ tên tác giả ảnh hoặc nguồn gốc, xuất xứ ảnh dưới vị trí tên tác giả vẽ tranh.

Với tác phẩm ảnh đă hết hạn bảo hộ, tác giả tranh không phải xin phép tác giả ảnh, cũng không phải trả các quyền lợi vật chất, ngoại trừ việc phải ghi rơ họ tên tác giả ảnh hoặc nguồn gốc xuất xứ ảnh.

Đương nhiên, quy định như vậy là đúng luật. Song, vấn đề cần bàn ở đây lại là: Liệu có cần phải tốn kém quá nhiều giấy mực, thời gian và tiền bạc (cho các cuộc hội thảo, lấy ư kiến...) để rồi rốt cuộc lại quay về vạch xuất phát ban đầu, tức là thừa nhận (lại) một điều không có ǵ mới hơn: sử dụng tác phẩm th́ phải xin phép tác giả!

Mặt khác, trước khi có dự thảo này, Thanh tra Bộ VH-TT cũng vẫn có đủ chế tài để xử phạt (Nghị định 31/2001; Luật Dân sự...) các vụ vi phạm bản quyền ảnh "Nụ hôn của gió", "Lớp học vùng cao"... thời gian qua.

Theo ông Phạm Thành Long (Giám đốc Công ty Luật gia Phạm), rơ ràng cơ sở pháp lư đă đủ để điều chỉnh. V́ vậy, việc cần thiết bây giờ chỉ là tuyên truyền để các nghệ sĩ hiểu rơ về ư thức, nghĩa vụ của ḿnh!

Ông Vũ Huyến (Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam) cho rằng: "Quy chế có tác dụng răn đe những họa sĩ trẻ mới vào nghề. C̣n những họa sĩ có tự trọng th́ chẳng mấy khi sử dụng lại tác phẩm ảnh của người khác để sáng tác".

50% có hợp lư?

Điều 10 dự thảo quy chế mới quy định: Trong các cuộc thi, cuộc vận động sáng tác tranh cổ động có giải thưởng vật chất hoặc được sử dụng in ấn phát hành th́ chủ sở hữu phần ảnh được hưởng 50% tổng giá trị vật chất (gồm thù lao trưng bày, in ấn, giải thưởng).

Trong khi đó, dự thảo quy chế cũ lại quy định tác giả ảnh chỉ được hưởng 30% thù lao vật chất so với tác giả tranh. Vậy con số 30% và 50% liệu đă thực sự hợp lư và công bằng về quyền lợi cho tác giả ảnh và tác giả tranh?

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Huyến băn khoăn: "Phương án chia đều 50:50 giữa nghệ sĩ nhiếp ảnh và tác giả tranh chỉ tiện cho việc quản lư - trong trường hợp xảy ra tranh chấp. Nhưng trên thực tế lại không cần thiết và can thiệp quá sâu vào quan hệ dân sự. Bởi v́ bao nhiêu % là do sự thỏa thuận bằng văn bản giữa người sử dụng ảnh và tác giả ảnh, chứ pháp luật không thể can thiệp. Vậy th́, với trường hợp anh em nhiếp ảnh cho không họa sĩ mà không đ̣i quyền lợi th́ hóa ra lại trái... pháp luật à? Mà nghệ sĩ chúng tôi th́ coi trọng sự ṣng phẳng, t́nh nghĩa chứ không phải là chia chác rạch ṛi như thế!".

Quy định người vẽ tranh cổ động là tác giả của bức tranh, nhưng tác giả của phần ảnh không phải là đồng tác giả tranh (điều 3) cũng đang gây tranh căi. Bởi trên thực tế, quy định như vậy chưa giải quyết được thỏa đáng quyền lợi của tác giả ảnh và tác giả tranh. Đấy là chưa kể trường hợp có những bức tranh cổ động copy gần như bê nguyên xi ảnh (vụ "Lớp học vùng cao" vừa qua), mà "sáng tạo" th́ rất ít


Nguồn tin lấy từ: www.nhandan.com
 

 

2. Bản quyền phần mềm VN: "Cần hoàn thiện hành lang pháp lư

Không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả các nước phát triển, t́nh trạng vi phạm bản quyền phần mềm máy tính đều rất phổ biến. Hiện tại, đây đang là thực tế nhức nhối ở Việt Nam, trong khi hành lang pháp lư cho vấn đề này mới chỉ ở mức cơ bản, giai đoạn đầu. VietNamNet xin giới thiệu một vài phân tích về vấn đề này của hai chuyên gia hiện đang làm việc trong lĩnh vực tư vấn pháp luật.
Khi nghe thông tin tỷ lệ vi phạm bản quyền PM của Việt nam năm 2004 là 92% - là một trong những nước có tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm cao nhất thế giới với giá trị vi phạm 55 triệu USD, nhiều người cho rằng, tỉ lệ này tuy cao, nhưng xét về tổng giá trị thiệt hại th́ vẫn là thấp so với các nước. Điều đó đúng, tuy nhiên nếu xét trên khía cạnh là một thị trường IT đang trên đà phát triển, Việt Nam sẽ gặp những khó khăn rất lớn khi thu hút đầu tư và vấp phải sự quan ngại của các nước khác trong khu vực, trên thế giới.
Ngoài vấn đề bản quyền PM máy tính, một số loại h́nh mới như dịch vụ nội dung trên điện thoại di động, nội dung trực tuyến (game online, music online, video online...) cũng là những h́nh thức rất nhạy cảm với vấn đề bản quyền, nhưng chưa được luật cập nhật.
Thực tiễn pháp lư ở Việt Nam cho thấy chưa có vụ xử lư nào liên quan đến vi phạm bản quyền trong lĩnh vực này. Tuy nhiên đây là vấn đề đă xuất hiện trên thực tế và sẽ c̣n gặp nhiều trong một thị trường ICT đang phát triển như Việt Nam. Vụ tranh chấp về việc sử dụng h́nh ảnh trong GameOnline mới đây giữa VinaGame và FPT là một ví dụ điển h́nh.
PM ra đời và để bảo hộ các quyền của tác giả, chủ sở hữu của nó, pháp luật đặt ra quy định về bản quyền phần mềm. Với mục đích đó và nhằm khuyến khích việc phát triển phần mềm, tạo sự lưu thông pháp lư cho hoạt động kinh doanh, sử dụng phần mềm hợp pháp, bản quyền phần mềm phải được tôn trọng và thực thi để thúc đẩy sự phát triển xă hội và công nghệ.
Khi CNTT và ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp ngày càng phát triển, việc phổ dụng trái phép các phần mềm máy tính không chỉ tạo ra sự thất thiệt cho các doanh nghiệp phần mềm, mà c̣n tạo ra sự cạnh tranh không b́nh đẳng giữa các doanh nghiệp. Câu chuyện về bản quyền PM trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, khi cơ chế pháp lư để phát triển và bảo hộ quyền tác giả có tác động đến cả cộng đồng doanh nghiệp và sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Chờ một hành lang pháp lư có hiệu lực
Thực trạng vi phạm bản quyền ở nước ta hiện nay đang đặt ra vấn đề bức xúc là cần phải có cơ chế khắc phục và giải quyết các vướng mắc c̣n tồn đọng.
Một trong những động thái trước tiên có thể kể đến là sự ra đời của Luật SHTT 2005 (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 1/7/2006). Luật SHTT ra đời sẽ tạo ra một hành lang pháp lư hoàn chỉnh và là cơ sở để thực hiện tốt việc bảo vệ quyền tác giả.
Luật sở hữu trí tuệ cũng dành hẳn một phần (Phần thứ năm) quy định về Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong đó quy định cụ thể về các biện pháp bảo vệ quyền SHTT: cơ chế tự bảo vệ, xử lư xâm phạm quyền SHTT bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Đặc biệt, Luật SHTT có quy định về bảo vệ quyền SHTT bằng các biện pháp hành chính, dân sự và h́nh sự, trong đó có đưa ra các mức bồi thường thiệt hại cụ thể khác nhau liên quan đến vi phạm quyền SHTT.
Cụ thể, căn cứ vào các mức độ vi phạm quyền SHTT, cơ quan có thẩm quyền xét xử có thể áp dụng mức bồi thường thiệt hại lên đến 500 triệu đồng (đối với các thiệt hại về vật chất) và từ 5 đến 200 triệu đồng (đối với các thiệt hại về tinh thần). Ngoài ra, với việc quy định kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT, Luật SHTT 2005 hứa hẹn sẽ hạn chế được các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến quyền SHTT.Cùng với các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan trong Bộ luật dân sự 2005 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2006), Luật Sở hữu trí tuệ 2005 tạo ra cơ chế pháp lư khá rơ ràng và hiệu năng với các quy định về bảo vệ và thực thi quyền tác giả và các quyền liên quan với các cơ chế xử lư vi phạm.
Với sự ra đời của các văn bản pháp luật trên, Việt Nam đă có bước tiến lớn trong việc thể chế hóa các cam kết quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng (Việt Nam đă là thành viên của Công ước Bern về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000 cũng như hệ thống các quy định của Tổ chức thương mại Thế giới WTO mà Việt Nam đang trong tiến tŕnh xin gia nhập đều có các quy định rất cụ thể về bảo hộ quyền SHTT). Chính sách phát triển công nghệ phần mềm của Nhà nước cần được cụ thể hóa bằng sự ban hành và thực thi hiệu quả các quy định pháp luật liên quan.
Vẫn là vấn đề ư thức
Bên cạnh đó, việc ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền SHTT, đặc biệt là việc vi phạm bản quyền đối với phần mềm máy tính, các tṛ chơi online…ngoài việc tạo dựng một hành lang pháp lư cần thiết để điều chỉnh hoạt động này, cần phải có ư thức tự giác chấp hành pháp luật của tất cả tầng lớp nhân dân, những người trực tiếp hay gián tiếp sử dụng các sản phẩm trí tuệ của nhân loại. Các doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế bị vi phạm bản quyền cần có ư kiến yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện liên quan đến việc vi phạm bản quyền tác giả.
Hơn thế nữa, chính bản thân tác giả, những người tạo ra tác phẩm, phải lên tiếng bảo vệ quyền lợi của chính ḿnh, nhằm ngăn chặn và hạn chế các hành vi vi phạm bản quyền có thể xảy ra một cách có hệ thống và bất chấp pháp luật.
Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay, do đời sống của nhân dân c̣n chưa cao, ư thức và hiểu biết pháp luật c̣n có nhiều hạn chế, việc tố cáo và ngăn chặn các hành vi vi phạm bản quyền có chăng c̣n rất hăn hữu. Mặt khác, tâm lư ngại tiếp xúc với các cơ quan có thẩm quyền và các thủ tục tố tụng liên quan đến giải quyết vi phạm bản quyền tác giả cũng là nguyên nhân dẫn đến việc tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm không tiến hành khởi kiện nếu thiệt hại về vật chất là không đáng kể.
Tuy vậy, cần nhớ rằng, trước đây chúng ta đă xử lư một số sự việc liên quan đến vi phạm bản quyền tác giả, tiêu biểu như vụ đạo nhạc bài hát “t́nh thôi xót xa”, và gần đây là các tác phẩm hội họa “Nụ hôn của gió”, hay “B́nh minh trên công trường”…
Đối với các sản phẩm phần mềm máy tính và những loại h́nh kinh doanh nội dung mới như trên ĐTDĐ, nội dung trực tuyến (game online, music online, video online...) thực tiễn cho thấy chưa có vụ xử lư tranh chấp pháp lư lớn nào liên quan đến vi phạm bản quyền ở Việt Nam. Hiện tại, đây là vấn đề mới nảy sinh trong khi các quy định pháp luật có liên quan chưa dự liệu được hết và chưa điều chỉnh một cách cụ thể. Hy vọng trong tương lai, các văn bản hướng dẫn thi hành của Luật SHTT 2005 ra đời sẽ khắc phục được những thiếu sót này, để hạn chế được phần nào t́nh h́nh vi phạm bản quyền tác giả ở nước ta hiện nay.
Việc sao chép và phân phối bất hợp pháp các chương tŕnh phần mềm máy tính là rất phổ biến trên thị trường nước ta. Để hạn chế t́nh trạng vi phạm bản quyền phần mềm, bên cạnh hệ thống pháp luật đầy đủ, cơ chế thực thi và bảo vệ quyền tác giả hiệu năng, cần phát huy cơ chế tự bảo vệ và ư thức của các chủ thể liên quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như sử dụng PM.


Thế Phong thực hiện
Nguồn tin lấy từ:
www.vietnamnet.vn




3. Vụ tranh chấp bản quyền tác phẩm "Nụ hôn của gió": Tác giả Nguyễn Trung Kiên thừa nhận vi phạm

Sáng 4-3, Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở (Bộ Văn hóa - Thông tin) tổ chức cuộc họp với Hội đồng Nghệ thuật cuộc thi tranh cổ động và các cơ quan chức năng xung quanh vụ việc tác giả Nguyễn Trung Kiên (sinh viên năm thứ 3 Viện Đại học Mở Hà Nội) sử dụng bức ảnh Nụ hôn của gió của nhà nhiếp ảnh Trần Thế Long để làm tranh cổ động dự thi.
Tại cuộc họp, ông Nguyễn Huy Oánh - Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật cuộc thi vẫn cho rằng tác phẩm đoạt giải nhất của Kiên và bức ảnh "Nụ hôn của gió" sai lầm ở chỗ giống nhau về bố cục, chứ không thể gọi là vi phạm bản quyền. Sau 3 giờ tranh luận gay gắt, ư kiến của ông Oánh không thuyết phục được Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh và Cục Bản quyền tác giả. Cuộc họp đi đến kết luận khẳng định: Bức tranh "Đảng là cuộc sống của tôi" xâm phạm bản quyền bức ảnh "Nụ hôn của gió". Với kết quả đó, BTC sẽ thu hồi giải thưởng của Nguyễn Trung Kiên.
Ngay sau cuộc họp, Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở nhận được thư của Nguyễn Trung Kiên thừa nhận có sử dụng bức ảnh "Nụ hôn của gió" và chính thức xin lỗi nhà nhiếp ảnh Trần Thế Long đồng thời xin trả lại giải thưởng


Nguồn tin lấy từ: www.haiphong.gov.vn




4. Tranh cổ động - một hướng hội nhập hiệu quả


Ngày 28.2 tại Hà Nội, Cục VHTT cơ sở đă làm lễ phát động cuộc thi tranh cổ động tuyên truyền Hội nghị cấp cao APEC 2006 và các cuộc họp liên quan khác tại VN.


Cuộc thi đă được chuẩn bị kỹ lưỡng, ngay cả ngôn ngữ trong tranh cũng được Thứ trưởng Bộ VHTT Đỗ Quư Doăn lưu ư tại cuộc phát động: APEC là Diễn đàn hợp tác kinh tế vùng Châu Á - Thái B́nh Dương, (tính đến nay có 21 thành viên) do vậy, chỉ dùng thuật ngữ "Các thành viên trong APEC" chứ không thể nói là "các nước" hay "quốc gia".


Ngoài biểu trưng của APEC và logo của nước chủ nhà, tranh không được dùng h́nh ảnh quốc kỳ của bất cứ thành viên nào. Liên quan đến bản quyền - vấn đề gần đây hay xảy ra trong giới mỹ thuật - ngoài thể lệ cuộc thi ghi rơ: "Bản quyền sáng tác tác phẩm thuộc về tác giả, khi có mọi tranh chấp liên quan, tác giả phải chịu trách nhiệm".


Về phía các hoạ sĩ, đây không những là một dịp đóng góp tài năng và tâm huyết của ḿnh trong việc quảng bá h́nh ảnh đất nước, mà c̣n là dịp để chứng tỏ tŕnh độ vẽ tranh cổ động ở VN. Theo hoạ sĩ Huy Toàn, BTC nên có mẫu những khẩu hiệu bằng tiếng Anh chuẩn để các hoạ sĩ tham khảo, để (nếu muốn) đưa vào tác phẩm của ḿnh không bị sai văn phạm như một số tranh cổ động đă từng trưng ở đường phố khi có những hoạt động mang tính quốc tế như SEA Games, ASEAN...

Hy vọng rằng, với chủ đề của năm APEC 2006: "Hướng tới một cộng đồng năng động v́ sự phát triển bền vững và thịnh vượng", các tác giả sẽ có nhiều ư tưởng độc đáo để góp phần tạo ra ấn tượng của một VN năng động, cởi mở, an toàn và hội nhập qua những tác phẩm của ḿnh.


Kim Anh thực hiện
Nguồn tin lấy từ:
www.laodong.com.vn



5. Đạo diễn thêm nghề biên kịch

Sân khấu kịch đang xuất hiện một lớp đạo diễn trẻ tự viết kịch bản để tồn tại với nghề. Có người thành công nhưng không ít người gặp phiền toái v́ chuyện tác quyền
Có ít nhất 10 vở diễn của đạo diễn trẻ hiện nay đang được sáng đèn trên các sân khấu kịch. Có vở họ đứng tên chung với một tác giả hoặc chịu trách nhiệm trước công chúng với vai tṛ tác giả kịch bản, đó là những vở diễn Mùa bông điên điển (đạo diễn Trung Dân), Chuyện t́nh mùa thu (Đức Thịnh dựa theo tác phẩm của Sỹ Hanh), Chiếc cầu (Chánh Trực), Quán ḿ hạnh phúc, Bồ câu đưa thư, Thị Mầu lên chùa (đạo diễn Quốc Bảo)...
Chỉ dừng lại ở ư tưởng
Điểm lại các kịch bản do chính đạo diễn trẻ sáng tác, dễ nhận thấy ngay những hạn chế về mặt ngôn từ, thiếu chất văn học. Hầu hết các kịch bản chỉ dừng lại ở mặt ư tưởng, được triển khai theo cách nghĩ của đạo diễn trẻ. Vở Mùa bông điên điển của đạo diễn Trung Dân được dàn dựng trên sân khấu Nhà hát Kịch TPHCM, phản ánh thực trạng nông thôn ngày nay trước xu hướng đổi mới của xă hội. Với cái gu thích khai thác đề tài về nông thôn, Trung Dân khá thành công khi tự tay viết và dựng kịch bản về đề tài này. Song, đôi lúc anh chủ quan nên, trên sàn tập, kịch bản vẫn phải chỉnh sửa theo sự góp ư của các diễn viên. Vở Chiếc cầu của đạo diễn Chánh Trực xuất phát từ ư tưởng về chung tay xây dựng một chiếc cầu bị găy th́ mọi việc trong làng quê sẽ tốt hơn. Với ưu điểm nhanh nhạy biết dung nạp những thông tin thời sự vào kịch, Chánh Trực đă xây dựng vở kịch bám sát hơi thở cuộc sống. Tuy nhiên, khuyết điểm của anh là không làm chủ được tuyến kịch, để diễn viên sa đà vào những mảng miếng hài vụn vặt.
Các vở: Quán ḿ hạnh phúc, Bồ câu đưa thư, Thị Mầu lên chùa... đều do đạo diễn Quốc Bảo sáng tác và dàn dựng tại Nhà hát Kịch Thế Giới TRẻ. Dù Quốc Bảo vẫn được đánh giá là một cây bút siêng năng nhất hiện nay nhưng khuyết điểm của Quốc Bảo là chưa đẩy những đoạn cao trào đến cực điểm, để nhân vật có thể khóc cười trước hoàn cảnh đặt ra. Xem các vở anh viết kịch bản vẫn thấy tiếc v́ thiếu nhiều dư vị để cảm xúc người xem thăng hoa.
Túng th́ phải biến
Trước thực trạng số lượng kịch bản quá ít như hiện nay, các tác giả chuyên nghiệp đổ xô sang lănh vực sáng tác kịch bản phim truyền h́nh nhiều tập đă khiến cho nguồn kịch bản sân khấu vơi đi đáng kể. Đây là lư do các đạo diễn trẻ muốn có đất dụng vơ phải nhảy vào cuộc với nghề tay trái: viết kịch bản. Đạo diễn Đức Thịnh được xem là gương mặt “hot” nhất hiện nay cho biết: “Nhiều kịch bản đọc chỉ lấy được ư tưởng, muốn triển khai phải đặt bút viết".
Đạo diễn Chánh Trực tâm sự: “Không ai thích tự biên, tự dựng cả, v́ sẽ không khách quan mà vở kịch sẽ được dựng theo chủ quan của ḿnh. Thế nhưng trong t́nh trạng không t́m ra kịch bản hay chúng tôi phải lao vào cuộc".
Vấn đề đặt ra cho các đạo diễn trẻ khi tham gia viết kịch bản là phải thâm nhập vào đời sống thực tế. Họ vẫn quen nằm nhà sáng tác dựa trên ư tưởng được nảy ra qua trao đổi với bạn bè hoặc đọc sách, báo, xem truyền h́nh. V́ thế kịch bản họ sáng tác thường rơi vào t́nh trạng “non tay nghề”.


Nguồn tin lấy từ: www.nld.com.vn

 



6. “Nhái phong cách” - nguy hiểm hơn sao chép tranh!


TP - Dư luận trong giới hội họa nói nhiều đến chuyện tranh “nhái phong cách” của một số họa sĩ ít nhiều danh tiếng và thu nhập cao, nhưng cụ thể đó là ai th́ ai có thể nói thẳng thắn về chuyện này?
Báo TP đă tiến hành gặp gỡ một số họa sĩ bị “nhái” phổ biến nhất. Họa sĩ Đào Hải Phong, sau khá nhiều cân nhắc, đă đồng ư trả lời phỏng vấn của chúng tôi:
Nh́n nhận của riêng anh về t́nh trạng tranh “nhái phong cách” của một số họa sĩ, trong đó có anh? T́nh trạng này, theo anh, dẫn đến hậu quả ǵ cho uy tín của hội họa VN trên thị trường tranh trong nước và quốc tế?
Khoảng 5 năm trở lại đây, t́nh trạng sao chép tranh không xin bản quyền tác giả đă thành phổ biến. Nhưng nguy hiểm hơn là t́nh trạng tranh “nhái phong cách” như chị vừa nói.
Lượng tranh nhái giờ đây nhiều hơn cả tranh thật và được rải đầy các gallery lớn nhỏ Hà Nội và TPHCM. Về loại tranh này, tôi muốn miêu tả bằng từ “rất quái thai”.
Ví dụ: motif nhà của tôi (họa sĩ ĐHP) được lồng ghép với motif cây của họa sĩ Lê Thanh Sơn một cách thô thiển và vụng dại; phong cách của họa sĩ Hồng Việt Dũng được sử dụng để làm nền cho một vài dạng tranh chân dung khác nhưng nếu không thật hiểu biết và tinh mắt, người ta chỉ có thể gật đầu tin đó là tranh Hồng Việt Dũng,...
Do vậy, dần dà, hội họa VN giảm uy tín và nay thực sự rất mất uy tín trên thị trường quốc tế.
Những dạng tranh nào, theo anh, đă và đang bị “nhái” nhiều nhất? Của những họa sĩ nào?
Đó là những dạng tranh đẹp, được công chúng yêu thích và có thị trường. Họa sĩ bị “nhái phong cách” nhiều ở Hà Nội là Lê Thanh Sơn, Hồng Việt Dũng, Phạm Luận, Lê Thiết Cương, Đặng Xuân Ḥa, Thành Chương, Đinh Quân, Quách Đông Phương và tôi. Trong TP HCM có Nguyễn Thanh B́nh và Nguyễn Diệu Thúy.
Anh không e ngại nếu phải điểm mặt, chỉ tên những gallery chủ mưu việc làm nhái tranh nói trên chứ?
Gallery vớ vẩn th́ tôi không để ư nhưng nổi cộm nhất là Mai Gallery ở số 183- Hàng Bông, Hà Nội và Vĩnh Lợi Gallery, TP HCM. ở đó, có tất cả những kẻ nhái phong cách, những “cascadeur” của thị trường hội họa. Họ chấp nhận làm tay sai cho những gallery này.
Việc “nhái” phong cách trong hội họa đúng là chưa được đề cập trong các văn bản pháp chế ở nước ta, mà chỉ được nhắc đến trong lương tâm nghề nghiệp của người cầm bút vẽ. Tuy nhiên, t́nh trạng này có vẻ gia tăng theo thời gian và ngày càng được “chuyên nghiệp hóa”. Theo anh, v́ sao lại như vậy?
Đơn giản là v́ đang có một sự xuống cấp đạo đức nghề nghiệp cũng như lợi dụng khái niệm nghệ thuật để kiếm tiền trong lĩnh vực hội họa ở VN.
Tôi từng tṛ chuyện với một số người làm công việc “nhái phong cách”. Họ đưa ra rất nhiều lư do hoàn cảnh sống bắt buộc, ràng buộc về kinh tế của gallery khiến họ không thể (hoặc chưa thể chấm dứt hợp đồng),...
Họ cũng tự nhận thấy là ḿnh hèn, ḿnh đang làm ra một thứ tranh vẽ nhợt nhạt, cải lương,... Họ c̣n nói rằng một khi thứ tranh đó có người mua, th́ có nghĩa nó vẫn có ích nhất định với người khác,...
Đó là những biện minh để lấp liếm cho việc lừa bịp và coi thường công chúng. Khi bán những thứ tranh “nhái” ấy, người bán thậm chí c̣n nói đó mới là tranh “xịn”, người vẽ nó chính là người sáng tác ra phong cách này nọ,...
Vấn đề ở đây là: chúng ta cần xem “người khác” chính là ai? Chắc hẳn là công chúng, là người mua tranh rồi. Tôi th́ vẫn cứ nghĩ người quan tâm và mua tranh hẳn là thành đạt trong sự nghiệp, sành sỏi trong làm ăn, sành điệu trong hưởng thụ... và khá giả. Thế mà họ dễ dàng chấp nhận thưởng thức tranh nhái sao? Thật buồn...
Sau cuộc gặp với họa sĩ Đào Hải Phong, chúng tôi đă ghé thăm website của Mai Gallery tại địa chỉ: www.maigallery-vietnam.com. Ở đó, Gallery này sử dụng tiếng Anh cho toàn bộ thông tin về ḿnh.
Logo của nó là “a leading art gallery of Vietnam” (tạm dịch: một gallery nghệ thuật hàng đầu của Việt Nam).
Và mời bạn xem một cửa sổ thông tin về họa sĩ Nguyễn Văn Đức, sinh năm 1976, người có hàng loạt tranh tựa như tranh của họa sĩ Đào Hải Phong và họa sĩ Bùi Hữu Hùng vẽ từ giữa những năm 1990 thế kỷ trước, khi Đức mới 20 tuổi...


Nguồn tin lấy: www.tienphôngnline.com.vn
 


7. Thu giữ thêm 60 máy tính vi phạm bản quyền tại TP.HCM


Trung tuần tháng 11 vừa qua, Thanh tra Bộ Văn hóa - Thông tin phối hợp Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lư kinh tế và chức vụ - Bộ Công an đă tiến hành thanh tra đột xuất 2 công ty kinh doanh máy vi tính lớn ở TP.HCM là công ty N.H và công ty T.N, phát hiện hơn 60 chiếc máy vi tính có cài đặt sẵn các phần mềm vi phạm bản quyền và 120 CD-ROM lậu có chứa các chương tŕnh phần mềm khác nhau.
Cuộc thanh tra lần này một lần nữa khẳng định quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt Nam.
Ông Phan An Sa, Chánh thanh tra bộ VH - TT cho biết: "Sau các cuộc thanh tra và xử lư mang tính chất giáo dục, răn đe đă được thực hiện tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh trong năm 2004 và đầu năm 2005, từ thời điểm này, chúng tôi sẽ siết chặt hơn việc thực thi bảo hộ bản quyền phần mềm. Đặc biệt chúng tôi sẽ áp dụng những h́nh thức xử phạt nặng hơn đối với các công ty kinh doanh máy vi tính cài đặt phần mềm bất hợp pháp v́ mục đích sinh lợi. Doanh nghiệp nào bị phát hiện vi phạm lần đầu sẽ bị đưa vào danh sách đặc biệt và nếu tiếp tục vi phạm những lần sau, chúng tôi sẽ áp dụng những biện pháp nghiêm khắc hơn theo quy định của Pháp lệnh xử lư vi phạm hành chính".

Trên thực tế ở Việt Nam, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có bảo hộ bản quyền phần mềm là một khó khăn không nhỏ đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh máy vi tính nói riêng. Hầu hết các công ty đều không đủ mạnh về tài chính để có thể thực hiện tốt luật này. Đơn giản, một công ty có khoảng 100 máy vi tính, nếu mỗi máy vi tính mua bản quyền một bộ Microsoft Office đầy đủ mất khoảng 600 USD, 100 chiếc sẽ là... 60 ngàn đô, tương đương khoảng 1 tỉ đồng! Đó là chưa kể những phần mềm khác cài đặt trong máy cần phải mua bản quyền. Với số tiền đó, chỉ một vài doanh nghiệp kinh doanh máy tính lớn ở VN là có khả năng bỏ ra để thực hiện nghiêm chỉnh việc bảo hộ bản quyền phần mềm.Anh Phí Anh Tuấn, Phó giám đốc công ty Giải pháp A-Z, một công ty phần mềm đang vươn sản phẩm ra thị trường nước ngoài hoàn toàn ủng hộ việc đẩy mạnh vấn đề thực thi bảo hộ bản quyền phần mềm, cho đó là một yếu tố quyết định đến sự phát triển lâu dài của ngành công nghệ thông tin nước nhà nói riêng và ngành truyền thông đa phương tiện nói chung. Anh Tuấn cho biết: "Bản thân chúng tôi sản xuất phần mềm, hơn ai hết chúng tôi phải tôn trọng việc mua bản quyền phần mềm. Đây là chuyện đương nhiên. Người tiêu dùng cũng nên chấp nhận chuyện này. Hơn nữa, việc bạn bỏ tiền ra mua bản quyền sẽ giúp nhà sản xuất có vốn để tái đầu tư sản xuất ra sản phẩm sau tốt hơn cho bạn dùng. Nhưng tôi nghĩ, thật khó để thực hiện triệt để v́ doanh nghiệp Việt Nam, người tiêu dùng VN c̣n eo hẹp về tài chính". Cùng với quan điểm này là anh Trần Nhật Quang, giám đốc FPT Elead: "Người ăn cắp bản quyền phần mềm sẽ bị thiệt hại trước tiên v́ bạn sẽ phải dùng những sản phẩm lỗi, không hoàn thiện, máy tính dễ dàng bị tấn công. Tôi nghĩ những doanh nghiệp cần thuyết phục khách hàng về lợi ích của việc mua bản quyền. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể cải thiện dần dần chứ chưa thể một sớm một chiều được".

Siết chặt việc thực thi bảo hộ bản quyền phần mềm là một chủ chương đúng đắn, góp phần vào nỗ lực chung thực hiện mục tiêu gia nhập WTO nhưng cũng nên có sự hỗ trợ, giúp đỡ, đồng hành cùng các doanh nghiệp kinh doanh máy vi tính. Bản thân các công ty này cũng cần năng động, t́m ra phương pháp tốt nhất để thực thi bảo hộ bản quyền phần mềm mà không cần ngay lập tức phải có chi phí tốn kém v́ những tập đoàn phần mềm lớn trên thế giới như Microsoft luôn sẵn ḷng hỗ trợ những công ty Việt Nam c̣n khó khăn về kinh tế, nếu bạn đặt vấn đề mua bản quyền với họ



Nguồn tin lấy từ: http://dost.danang.gov.vn

Advertisement

Công ty tư vấn luật LEADCO

 

  

Footer

Cá nhân và tổ chức sử dụng thông tin của SMEnet phải ghi rơ địa chỉ http://www.SMEnet.com.vn

Góp ư xin gửi thư về webmaster@smenet.com.vn

Web site này do Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) hợp tác phát triển