Home-Left Menu
Home-HorizontalMenu

BẢN TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 33
(Tuần từ 01/05 - 07/05/2006)

 

(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật LEADCO)

Địa chỉ: 85 Trần Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email: leadco@hn.vnn.vn

 

Để luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy bấm vào đây. Để được tư vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy bấm vào đây.

 

 

1.Hiểu biết về sở hữu trí tuệ c̣n hạn chế

Trong mấy năm gần đây, vai tṛ của tài sản trí tuệ (TSTT) và sở hữu trí tuệ (SHTT) đă được cộng đồng nhận thức một cách tích cực hơn. Tuy nhiên, so với đ̣i hỏi của t́nh h́nh, hiểu biết của những người làm sáng tạo, doanh nghiệp (DN) và của các cơ quan quản lư nhà nước vẫn hạn chế.

Theo Bộ KHCN, hầu hết các DN chưa có ư thức đầy đủ về vai tṛ, giá trị của TSTT. Rất ít DN có tổ chức bộ phận chuyên chăm lo về SHTT. Hầu như chưa có DN nào có chiến lược về SHTT hoặc coi vấn đề SHTT là bộ phận trong chiến lược phát triển của ḿnh. Tài sản vô h́nh, trong đó có TSTT chưa trở thành đối tượng quản lư như quản lư tài sản thông thường. SHTT tiếp tục là một lĩnh vực mới mẻ với đa số cán bộ, công chức cũng như đối với hầu hết các nhà DN. Tuy nhiên, cũng cần nh́n nhận rằng, để sử dụng được các cơ chế về SHTT cần phải có thời gian, phải học hỏi và chi phí tài chính. Tất cả những điều đó dường như tạo thêm gánh nặng hoặc rào cản đối với những nỗ lực thâm nhập thị trường của các DN không có các đối tượng SHTT được đăng kư. Môi trường pháp lư với cơ chế bảo hộ SHTT đă đặt DN vào những ràng buộc và có thể bị rơi vào các vụ kiện tụng, tranh chấp với những người khác. V́ lẽ đó, nhiều người, nhiều DN c̣n thụ động, trông chờ vào Nhà nước trong việc chăm lo, bảo vệ TSTT.

Mạng lưới dịch vụ về SHTT hiện c̣n rất mỏng. Số chuyên gia dịch vụ SHTT thực thụ chỉ khoảng 200 người với gần 30 Cty cung cấp dịch vụ này. Hoạt động chủ yếu của các đơn vị này chỉ là làm thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp. Vai tṛ của các nhà cung cấp dịch vụ SHTT trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền SHTT, chống lại nạn hàng nhái, hàng sao chép lậu c̣n chưa cao. Dịch vụ SHTT nói chung chưa được cung cấp rộng khắp, chỉ tập trung tại các thành phố lớn. Chất lượng dịch vụ SHTT và tŕnh độ của các nhà cung cấp dịch vụ này hiện đang ở mức thấp. Đây sẽ là yếu tố hạn chế khả năng cạnh tranh của các DN dịch vụ SHTT của Việt Nam so với nước ngoài.

Mặt khác, thông tin SHTT đang là một trong các khâu yếu nhất trong hoạt động SHTT ở nước ta. Số lượt người khai thác thông tin sáng chế rất thấp, khoảng trên 1000 lượt người/năm ở cả 3 trung tâm tư liệu sáng chế tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Phần lớn các yêu cầu tra cứu tin được tiến hành với nhăn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp, chứ không phải là sáng chế. Chính những điều này là một nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng phát triển hoạt động SHTT thời gian qua.


Đan Nhiễm thực hiện
Nguồn tin lấy từ: www.hanoimoi.com.vn



2. Lại chuyện tranh chấp quyền sở hữu nhăn hiệu

Sở Khoa học-Công nghệ tỉnh Long An khởi kiện Công ty Cao Nguyên tại Mỹ về việc gạo Nàng Thơm chợ Đào là loại gạo đặc sản chỉ trồng được ở xă Mỹ Lệ, huyện Cần Đước (Long An), đặc biệt thơm ngon với thành ngữ: “Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai”. Vừa qua, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam vừa cấp giấy chứng nhận cho Hợp tác xă Dịch vụ nông nghiệp (HTXDVNN) xă Mỹ Lệ được độc quyền nhăn hiệu hàng hóa “Gạo nàng Thơm Chợ Đào”.


Thế nhưng, trong quá tŕnh làm thủ tục để được chứng nhận độc quyền nhăn hiệu hàng hóa “Gạo nàng Thơm Chợ Đào” cho HTXDVNN xă Mỹ Lệ, Sở Khoa học và Công nghệ (KHCN) tỉnh Long An đă phát hiện ra chuyện nhăn hiệu “Nàng Hương Chợ Đào” được đăng kư tại Mỹ cũng cho sản phẩm gạo thuộc nhóm 30, giấy chứng nhận được cấp cho Công ty Cao Nguyên.


Hiện Sở KHCN Long An đă liên hệ nhờ một văn pḥng luật sư ở Mỹ khởi kiện, yêu cầu Cơ quan sáng chế và nhăn hiệu Hoa Kỳ hủy bỏ giấy chứng nhận của Cao Nguyên, sau đó doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiến hành đăng kư ở Mỹ. Tuy nhiên, phía Việt Nam phải cung cấp thêm thông tin và chứng cứ mới mong thắng kiện.


Nguồn tin lấy từ http: // irv.moi.gov.vn

 


3. VietNamNet cùng DN bảo vệ nhăn hiệu hàng hoá!


Nhăn hiệu hàng hoá đă trở thành tài sản có thể tính được bằng tiền của DN. Tuy nhiên, đăng kư thế nào, bắt đầu từ đâu... vẫn c̣n là câu hỏi khó. Báo điện tử VietNamNet đă giúp DN trả lời những câu hỏi này thông qua cuộc Hội thảo ''Xây dựng và phát triển thương hiệu Việt'' được phối hợp với Công ty Sở hữu trí tuệ D&N tổ chức sáng nay (23/10).


Đăng kư bảo hộ NHHH chỉ tốn 3,7 triệu đồng


Nhăn hiệu hàng hoá (NHHH) là một trong những tài sản quan trọng của DN. Giá trị tài sản này tăng lên hàng ngày và tỷ lệ thuận với hàng hoá DN bán ra. Khi nhăn hiệu hàng hóa trở nên nổi tiếng th́ đó là tài sản vô giá. Vừa qua, BusinessWeek kết hợp với Interbrand đă đưa ra bảng xếp hạng 100 nhăn hiệu hàng đầu thế giới, trong đó riêng Coca-Cola đứng thứ nhất có giá trị tới 67,4 tỷ USD, Microsoft có giá trị 61 tỷ USD.
Các DN Việt Nam hiện nay đang ngày càng quan tâm hơn đến việc đăng kư bảo hộ NHHH. Tuy nhiên, theo Ông Trần Việt Hùng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học Công nghệ, mới chỉ có khoảng 10% DN biết tự bảo vệ ḿnh thông qua việc đăng kư bảo hộ NHHH. Phần lớn DN vẫn c̣n chậm trễ và chỉ khi xảy ra tranh chấp, họ mới ư thức được tầm quan trọng của bảo hộ NHHH. Một số trường hợp như Cafe Trung Nguyên, sơn NIPPON Vietnam... đă trở thành những bài học xương máu cho các DN.


Theo Luật sư Vũ Thái Hà, Phó Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ D&N, các DN nên sớm đăng kư bảo hộ NHHH v́ tŕnh tự nộp đơn và được chấp nhận hợp lệ trên thực tế phải kéo dài ít nhất 1 năm, có trường hợp c̣n đến 2,3 năm. Mỗi tháng ở Việt Nam có tới 1.300 NHHH xin đăng kư được bảo hộ. V́ vậy, DN càng đăng kư bảo hộ NHHH sớm ngày nào càng tốt ngày ấy. Trước hết, DN sẽ được độc quyền gắn nhăn hiệu đó lên mọi hàng hoá, bao b́, quảng cáo... của ḿnh, có quyền bán hoặc cho thuê nhăn hiệu đó trong thời gian nhất định. Tuy nhiên, cái được lớn nhất của DN chính là tăng tính cạnh tranh trên thị trường, chống giả mạo hàng hoá ( có quyền khởi kiện bên xâm phạm và đ̣i bồi thường thiệt hại). Trên thực tế chi phí trọn gói để DN tiến hành đăng kư một NHHH chỉ khoảng 3,7 triệu đồng - con số quá nhỏ so với những giá trị có thể mất nếu bị làm giả, làm nhái sản phẩm, tranh chấp.


VietNamNet đồng hành cùng DN qua http://doanhnghiep.vietnamnet.vn/IP/index.asp.


Với mục đích giúp DN ư thức được tầm quan trọng của việc xây dựng, quảng bá thương hiệu trong kinh doanh, chuyên trang Xúc tiến Xuất nhập khẩu Eximpro thuộc Báo điện tử VietNamNet đă phối hợp với Công ty Sở hữu trí tuệ D&N cung cấp dịch vụ Sở hữu trí tuệ trực tuyến tại địa chỉ: http://doanhnghiep.vietnamnet.vn/IP/index.asp.
Bên cạnh các thông tin cập nhật, các bài nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống chi tiết các văn bản luật trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, kênh hỏi đáp miễn phí trực tuyến Eximpro được xem như là một tiện ích hỗ trợ đắc lực đối với DN trong lĩnh vực này. Các chuyên gia sở hữu trí tuệ của Công ty sở hữu trí tuệ D&N và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức GTZ sẽ trả lời các câu hỏi có liên quan đến thương hiệu, nhăn hiệu và các lĩnh vực khác của sở hữu trí tuệ.


Ngoài việc cung cấp các thông tin cần thiết để đăng kư bản quyền, sáng chế, kiểu dáng, NHHH trong nước, dịch vụ sở hữu trí tuệ trực tuyến c̣n hướng dẫn đăng kư NHHH tại các nước: Brunei, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Singapore. Thủ tục đăng kư tại một số nước và khu vực như: EU, Mỹ, Nhật, Trung Quốc và Hàn Quốc cũng đang tiếp tục được cập nhật.


Hỗ trợ DN dịch vụ sở hữu trí tuệ thực tế đă được Eximpro tiến hành từ tháng 5 vừa qua với chương tŕnh ''Hỗ trợ xây dựng 1.000 thương hiệu Việt'' trên trang Eximpro (1/5-31/12/2004). DN tham gia chương tŕnh không những được miễn phí tư vấn ban đầu, miễn phí tư vấn lựa chọn thương hiệu, hỗ trợ thiết kế thương hiệu mà c̣n được quảng bá thương hiệu đă đăng kư trên trang sở hữu trí tuệ của Eximpro trong ṿng 1 tháng và tư vấn miễn phí 3 năm kể từ ngày được cấp văn bằng bảo hộ. 1.000 DN tham gia chương tŕnh này sẽ được miễn giảm từ 10%-50% phí dịch vụ sở hữu trí tuệ.


DN cũng có cơ hội được quảng cáo miễn phí sản phẩm và thương hiệu đă đăng kư tới 150.000 thành viên Eximpro qua kênh Newsletter và đăng quảng cáo miễn phí thương hiệu qua một số kênh B2B nổi tiếng trên thế giới. Ngoài ra DN c̣n có cơ hội quảng cáo miễn phí tại phần Weblink trên Báo Điện tử VietNamNet và có thể xem nhiều tiện ích cũng như dịch vụ hỗ trợ khác trong tài liệu của Eximpro Profile.


Nguồn tin lấy từ: www.vietnamnet.vn



4. Cần có thương hiệu cho làng nghề

 

Thời gian gần đây, đă xảy ra rất nhiều vụ tranh chấp thương hiệu đối với một số doanh nghiệp. Từ những vụ tranh chấp cho thấy, đă đến lúc phải quan tâm đến thương hiệu đối với các làng nghề. Bởi thực tế đă chỉ ra rằng, có nhiều sản phẩm từ các làng nghề của Việt Nam được đưa ra thị trường thế giới nhưng lại mang nhăn hiệu khác. Thậm chí có nhiều sản phẩm c̣n bị gia công, nhái mẫu mă, ăn cắp bản quyền.


Trong những năm qua, nhiều làng nghề thủ công truyền thống bị lao đao trong khâu tiêu thụ sản phẩm do thiếu sự đầu tư kinh phí, đầu tư cơ sơ hạ tầng như máy móc, mặt bằng sản xuất. Sản phẩm làm ra chỉ chủ yếu ở những cơ sở sản xuất tư nhân nhỏ lẻ nên chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước mà chưa áp dụng sản xuất theo dây chuyền để xuất khẩu đi các nước trên thế giới.


Tính đến thời điểm hiện tại, hầu hết những sản phẩm thủ công truyền thống của ta có mặt trên thị trường thế giới đều do các thương nhân nước ngoài sang tận Việt Nam đặt hàng rồi tự mang về. Cũng có một vài làng nghề đă bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, của sự phát triển của khoa học công nghệ, đă thiết lập Website quảng cáo và cũng đă bước đầu quan tâm đến vấn đề bảo vệ thương hiệu như làng gốm Bát Tràng, nước mắm Phú Quốc. Tuy nhiên con số này chỉ đếm được trên đầu ngón tay. C̣n đại đa số các làng nghề hiện nay đều tồn tại theo kiểu tự thân vận động, mạnh ai nấy làm. Quy mô và quá tŕnh sản xuất chỉ gói gọn trong từng hộ gia đ́nh. Mặc dù mọi người đều hiểu được tác dụng của việc khuếch trương sản phẩm ra thị trường nước ngoài nhưng để tự ḿnh thiết lập một trang quảng cáo trên Internet cho cả làng nghề th́ tương đối tốn kém, một cá nhân khó làm nổi. Chính v́ vậy, quảng cáo, khuếch trương sản phẩm c̣n là điều khó chứ chưa nói ǵ đến việc đăng kư bảo vệ thương hiệu cho làng nghề của ḿnh.


Khi các làng nghề chưa có sự đăng kư bảo hộ cho sản phẩm của làng nghề ḿnh th́ việc mạo danh, ăn cắp bản quyền là điều không thể tránh khỏi. Vậy để tránh lặp lại bài học tranh chấp, kiện cáo đ̣i lại bản quyền cho sản phẩm của ḿnh như một số doanh nghiệp đă làm, nên chăng các ngành chức năng cần phối hợp với chính quyền địa phương và những hộ sản xuất tại những làng nghề nhanh chóng phối hợp t́m hướng giải quyết.

 

Nguồn tin lấy từ: www.mpi.gov.vn
 


5. Doanh nghiệp cần chú trọng đăng kư bảo hộ nhăn hiệu

Một yêu cầu ngày càng cấp thiết đang đặt ra cho các doanh nghiệp là tăng cường nhận thức về bảo hộ sở hữu trí tuệ và tích cực đăng kư bảo hộ sở hữu trí tuệ, nhất là đối với đăng kư bảo hộ nhăn hiệu hàng hóa trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng.

Đây không chỉ là công cụ hữu hiệu giúp bảo vệ quyền sở hữu và sử dụng độc quyền nhăn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp tại thị trường trong và ngoài nước, mà c̣n là cơ sở quan trọng nhất để giúp giải quyết một cách thoả đáng những tranh chấp thương mại xảy ra liên quan đến vi phạm về bản quyền, quyền sở hữu, từ đó bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của các doanh nghiệp.

Theo bà Phạm Thị An, chuyên gia thuộc Công ty TNHH tư vấn Phạm Anh Nguyên (Anphaco Ltd), nhăn hiệu ngày càng được coi là tài sản có giá trị lớn nhất của doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với các tập đoàn xuyên quốc gia có quy mô càng lớn, th́ giá trị của các nhăn hiệu càng cao và nếu có thể định giá được th́ cũng phải vào khoảng vài chục tỷ USD. Bà An dẫn chứng ra một số nhăn hiệu có giá trị vào loại cao đă được Tạp chí Business Week công bố, như Coca - Cola khoảng 67,52 tỷ USD, Microsoft gần 60 tỷ USD, IBM 53 tỷ USD, Nokia 26,5 tỷ USD, Mc Donald’s 26 tỷ USD, Toyota 24,9 tỷ USD...

Đối với những tập đoàn trên, việc đăng kư bảo hộ quyền sở hữu độc quyền nhăn hiệu là điều tối quan trọng, giúp họ có thể tránh được bất cứ sự xâm phạm nào về bản quyền sử dụng, cũng như giúp họ giải quyết hữu hiệu trong trường hợp bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. “Đây là một yêu cầu hết sức quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập, bởi khi doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường, một khi đă có được thế vững chắc trong ḷng người tiêu dùng, chắc chắn nhăn hiệu của doanh nghiệp đó sẽ là mục tiêu ‘nḥm ngó’ của nhiều nhà sản xuất của nước sở tại”, bà An nhấn mạnh.

Theo kết quả nghiên cứu của Anphaco, có nhiều rủi ro xảy ra nếu doanh nghiệp không thực hiện việc đăng kư nhăn hiệu ở nước ngoài khi có chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu. Trong đó, rủi ro lớn nhất là nhăn hiệu có thể bị người khác đăng kư trước tại nước nhập khẩu, cản trở việc sử dụng và đăng kư của chủ sở hữu đích thực, từ đó gây ảnh hưởng tới mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu của doanh nghiệp. Trong trường hợp nhăn hiệu đă bị người khác đăng kư, nếu hàng chưa xuất được vào thị trường mà doanh nghiệp muốn xuất hàng, th́ sẽ bắt buộc phải thay đổi lại nhăn hiệu của ḿnh, vừa không hiệu quả lại vừa tốn kém chi phí.


Nguồn tin lấy từ: www.nhandan.com.vn



6. Thương hiệu Thanh Giang trên đất nghề Xuân Tiến

Hơn 15 năm về trước, mấy chàng trai nông dân ở xứ đạo Kiên Lao (xă Xuân Tiến) mà chủ chốt là Đinh Thanh Giang đă cùng nhau mày ṃ, nghiên cứu h́nh thành nên chiếc máy đập lúa liên hoàn - một công cụ giải phóng sức lao động cho nông dân mà ngày đó c̣n rất hiếm hoi trên miền bắc và từ ngày ấy, cơ sở sản xuất mang tên Thanh Giang cũng ra đời.

Đến nay, đất nghề Xuân Tiến, huyện Xuân Trường (Nam Định) đă có hơn 30 cơ sở sản xuất máy đập lúa liên hoàn (Trong số hơn 900 cơ sở sản xuất trong toàn xă).

...Là con trai thứ tư trong một gia đ́nh có truyền thống làm nghề cơ khí, ngay từ bé ánh lửa ḷ cùng tiếng máy rè rè gọt thép đă trở nên quen thuộc với Đinh Thanh Giang. Sinh ra trên đất nghề nơi có nhiều thợ tài hoa nhưng truyền đời ở đây chỉ làm ra những sản phẩm gia dụng, phụ tùng xe đạp, cao hơn là một số phụ tùng máy móc. Thấy những chiếc máy đập lúa liên hoàn giúp cho nông dân Nam Bộ thu hoạch mùa màng nhanh gọn lại giảm bao nỗi nhọc nhằn, Đinh Thanh Giang nảy ư định rồi t́m những bạn bè chí thú với nghề truyền thống, cùng nhau hợp sức chế tạo loại máy này. Thế rồi căn nhà nằm sâu trong ngơ 7 giữa làng nơi ở của gia đ́nh anh được dùng làm nơi thực hiện ư tưởng đó. Tuy đă có mẫu nhưng với điều kiện lúc bấy giờ, chế tạo thành công một chiếc máy đập liên hợp không phải là điều đơn giản. Với đầu óc sáng tạo, nhóm bạn dưới sự chỉ đạo của Giang đă hoàn thành công tŕnh và thử nghiệm thành công ngay trong vụ gặt năm đó trên cánh đồng làng trong sự vui mừng của bà con quê hương. Thế rồi cũng chính ngôi nhà của Đinh Thanh Giang đă trở thành cơ sở sản xuất máy đập lúa liên hoàn đầu tiên trên đất nghề Xuân Tiến và nay là Công ty TNHH Thanh Giang do anh làm giám đốc.

Ngoài duy tŕ cơ sở sản xuất tại nhà, công ty đă mở rộng thêm hai ngh́n m2 đất tại cụm công nghiệp Xuân Tiến. Đă xây dựng hoàn chỉnh văn pḥng, nhà xưởng, kho băi, đầu tư thêm thiết bị phục vụ sản xuất. Với sức tiêu thụ sản phẩm "làm ra đến đâu bán hết tới đó" mà vẫn có người ở xa tới chấp nhận "Ăn nhờ, ở đỗ" chờ đợi để mua máy đă nói lên máy đập lúa liên hoàn mang thương hiệu Thanh Giang có uy tín với khách hàng như thế nào. Cho dù máy làm ra có những ưu điểm vượt trội như: không nát rơm, vỡ gạo, thóc theo rơm có tỷ lệ thấp nhất... Nhưng Đinh Thanh Giang vẫn chưa hài ḷng. Anh cho rằng, dù kiểu dáng máy đă đẹp, gọn, di chuyển dễ dàng và hiệu suất hoạt động tốt hơn nhiều so với trước nhưng tiếp tục nghiên cứu, cải tiến vẫn có thể cho ra đời thế hệ máy mới ưu việt hơn. Tâm tư của giám đốc trẻ này c̣n có chuyện mất bao công sức sáng chế để được Cục Sở hữu công nghiệp (Bộ KH-CN và Môi trường) cấp bằng độc quyền sáng chế một số bộ phận như: Cơ cấu lược chải; mô cản quay được trên mặt bằng của máy đập lúa... song đang bị một số cơ sở khác vi phạm bản quyền.

Giám đốc Đinh Thanh Giang c̣n đang trăn trở về bước đường phát triển của công ty trong tương lai. Cùng với sản phẩm chính phục vụ nông nghiệp, các loại máy cho ngành xây dựng như: máy trộn bê-tông đơn năng, đa năng; máy đùn gạch cũng đă được cơ sở sản xuất, nhưng trước mắt vẫn là hoài vọng làm sao cho sản phẩm máy đập lúa liên hoàn đẹp hơn, tốt hơn sánh ngang hàng nhập ngoại. Hóa ra giám đốc của công ty ở giữa làng này không chỉ biết "tự sản, tự tiêu" mà có tầm nh́n khá rộng. Đến nay, Thanh Giang đă đặt đại lư ở nhiều tỉnh thành trong nước, v́ thế máy của Công ty Thanh Giang đă có mặt trên đồng ruộng nhiều tỉnh, thành phố trên miền bắc và một số tỉnh miền trung, miền nam và c̣n được xuất bán sang Lào, các tỉnh biên giới của Trung Quốc giáp Việt Nam. Nông dân đến mua máy ở đây ngoài niềm tin về chất lượng sản phẩm c̣n hài ḷng khi được chỉ dẫn cặn kẽ, được cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng, điều chỉnh máy trong quá tŕnh sản xuất, cũng như an toàn lao động.

Với chí hướng "lập thân, lập nghiệp" và những đóng góp cho sự phát triển cộng đồng, giám đốc Đinh Thanh Giang là gương mặt trẻ tiêu biểu của tỉnh Nam Định, đă được Tổng liên đoàn lao động Việt Nam cấp bằng lao động sáng tạo. Anh được bầu là thành viên ban chủ nhiệm câu lạc bộ doanh nghiệp trẻ của tỉnh và là ủy viên ban chấp hành hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn Việt Nam. Bận rộn là thế nhưng anh vẫn nhiệt t́nh tham gia khi được bầu là đại biểu HĐND tỉnh; Ủy viên MTTQ Việt Nam tỉnh.

Cho ra đời chiếc máy đập lúa liên hoàn đầu tiên, Đinh Thanh Giang đă khơi nguồn sáng tạo cho lớp trẻ trên đất nghề Xuân Tiến. Đến hôm nay với hơn 30 cơ sở sản xuất mặt hàng này nơi đây đă trở thành trung tâm trong vùng cung cấp máy phục vụ nông nghiệp và ngành xây dựng. Trên con đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của quê hương rất cần những con người dám nghĩ dám làm như thế.


Phạm thị Thanh Hương thực hiện
Nguồn tin lấy từ:
www.nhandan.com.vn

 


7. Xây dựng thương hiệu quốc gia: Bắt đầu từ đổi mới tư duy

“Tôi đến Việt Nam sáu lần, đi từ nam chí bắc, cũng đă đặt chân đến tám quốc gia Đông Nam Á khác. Có đi mới thấy tiếc cho Việt Nam có quá nhiều thứ để “bán” cho thế giới mà chưa biết cách bán và bán cho ai”, giáo sư Julio Aramberri của Đại học Drexel (Mỹ) nói.

Việt Nam - cô gái ngủ dậy muộn

“Tôi đi từ Hà Nội đến Hạ Long, ghé qua Huế, Hội An rồi dừng lại ở TP.HCM. Tôi thích vùng đất này v́ nếu đến Cam-pu-chia tôi chỉ biết viếng thăm đền Angkor Wat, trong khi mỗi vùng miền của Việt Nam đều có những điểm đến đặc sắc riêng.

Nhưng so với Thái-lan, Malaysia hay Singapore, du lịch Việt Nam giống như một cô gái ngủ dậy muộn nên rất cần phải bắt tay vào quảng bá thật sự”, ông Aramberri nhận xét.

Ông Aramberri cho rằng, xây dựng thương hiệu quốc gia cần nhận được sự hợp sức từ nhiều cơ quan Chính phủ Việt Nam và khối doanh nghiệp tư nhân. Theo ông, trước hết Bộ Tài chính phải thấu hiểu tầm quan trọng của vấn đề để dành ra ngân sách hợp lư cho công tác quảng bá.

Bộ Ngoại giao cần hỗ trợ các chương tŕnh tiếp thị ở những thị trường trọng điểm bằng cách đốc thúc sự tham gia của các đại sứ quán, lănh sự quán và tham tán thương mại. Các chính quyền địa phương nơi có điểm tham quan du lịch phải ư thức được trách nhiệm giữ ǵn cảnh quan và tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng để kéo dài thời gian lưu trú của khách và tăng số tiền chi tiêu của họ.

Ngoài ra, khối doanh nghiệp tư nhân trong ngành khách sạn, nhà hàng... với sự năng động và linh hoạt vốn có của họ chính là đối tác “nặng kư” nhất của Tổng cục Du lịch Việt Nam. "Tiếp thị điện tử chính là phương thức rẻ tiền mà hiệu quả nhất hiện nay.

Thế nhưng, vào website của Hanoitourist hay Saigontourist tôi thấy buồn làm sao! Chúng không được tổ chức tốt và dường như không có những điểm đến được giới thiệu ưu tiên.

Ở Mỹ, tôi chưa bao giờ thấy một chương tŕnh quảng bá đúng nghĩa của Tổng cục Du lịch Việt Nam, thành ra khách Mỹ ít khi nghĩ đến việc đi du lịch Việt Nam v́ thông tin họ có quá sơ sài. Trong khi vào website các nước châu Á khác thậm chí tôi c̣n tải về được các video clip về du lịch của họ để xem nữa kia”, ông Aramberri nhấn mạnh.

Biến du khách thành người tri kỷ

Theo giáo sư Frédéric Dimanche từ Trung tâm quản lư du lịch và Trường CERAM Sophia Antipolis (Pháp), để quảng bá thương hiệu Việt Nam trước hết phải tạo được sự nhận biết rộng răi ở các thị trường trọng điểm.

Ông Dimanche phân tích: “Sẽ là sai lầm nếu bạn nghĩ chỉ cần có cảnh quan đẹp th́ sẽ thu hút được du khách. Họ muốn thật sự là một phần của cuộc sống của người địa phương. Hăy tổ chức những sự kiện để du khách có thể tham gia nhằm để lại trong ḷng họ những kỷ niệm khó quên về một điểm đến mới.

Bạn chỉ có thể kéo khách quay trở lại khi ư thức được tầm quan trọng của việc luôn luôn làm mới các sự kiện. Theo tôi, tết ta của Việt Nam cũng được xem là một sự kiện và cần nỗ lực thu hút khách trong dịp này”.

Bà Lorelle Champion của Học viện North Coast TAFE (Australia) cho rằng những trải nghiệm ở Việt Nam mà du khách nước ngoài rất thích là tự lái xe máy đi ṿng ṿng Đà Lạt thơ mộng, yên b́nh, ghé các gia đ́nh địa phương, lưu trú tại nhà họ, viếng thăm các trường học và trại trẻ mồ côi.

Theo bà Champion, du khách phương Tây rất thích học cách chuẩn bị và nấu các bữa ăn Việt Nam, thậm chí thích lê la ở các quán ăn dọc đường theo thói quen của người địa phương hơn là ngồi trong các nhà hàng. Nói chung họ muốn tham gia những sinh hoạt mà trong đời sống thường nhật của họ không có.

Theo bà Bùi Trân Phượng (hiệu trưởng Trường CĐ Hoa Sen) trong lĩnh vực du lịch Việt Nam đang đi sau các nước về sự chuyên nghiệp không chỉ trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, kinh doanh khách sạn, nhà hàng, chăm sóc sức khỏe... mà c̣n trong việc quản lư và bảo tồn các di sản.

Chính v́ thiếu nhiều thứ, Việt Nam vẫn đang là thị trường “cảm ứng với giá”, tức du khách đang đổ đến Việt Nam đa số v́ hấp lực “giá rẻ”. Bà Phượng nhận xét: “Tất nhiên, từ “cảm ứng với giá” đến “cảm ứng với thương hiệu” là cả một chặng đường dài.

Hiện nay, chúng ta đang đánh giá khách du lịch trên số lượng chứ chưa thật sự nh́n thẳng vào chất lượng tiêu xài và thời gian lưu trú của họ.

V́ vậy theo tôi, hướng về việc xây dựng, chính xác hơn là nâng cấp, tái tạo thương hiệu Việt Nam trong du lịch, chính là đón đầu nhu cầu du khách, biến họ từ người hiếu kỳ thành người tri kỷ, khách văng lai thành bằng hữu lâu dài. Sự chuyển ḿnh, nâng cấp như vậy không nhất thiết phải bắt đầu bằng đầu tư sức người, sức của mà phải bắt đầu bằng đổi mới tư duy”.


Nguồn tin lấy từ: www.nhandan.com,vn



8. Doanh nghiệp Việt “săn” thương hiệu ngoại

Nhiều doanh nghiệp lớn trong nước đang có xu hướng mua quyền sử dụng thương hiệu nổi tiếng của nước ngoài. Theo Cục Sở hữu Trí tuệ, năm 2005 tại Việt Nam có 530 nhăn hiệu được chuyển quyền sử dụng và 811 nhăn hiệu được chuyển nhượng quyền sở hữu.

Bên cạnh việc nỗ lực xây dựng thương hiệu riêng của ḿnh, nhiều doanh nghiệp lớn trong nước đang có xu hướng mua quyền sử dụng thương hiệu nổi tiếng của nước ngoài để nhanh chóng tạo cho ḿnh một giá trị thương hiệu mạnh, hướng ra toàn cầu.

Như thế, các doanh nghiệp song song đạt được hai mục tiêu: vừa được mang thương hiệu nổi tiếng, vừa khẳng định được chất lượng hàng hóa, uy tín của doanh nghiệp ḿnh nhờ vào thương hiệu đó.

“Đại gia” vào cuộc

Sự kiện đáng chú ư trong năm nay đều diễn ra ở các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp. Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba) dự kiến sản xuất hai nhăn thuốc lá mới của Anh là Pall Mall và Viceroy thông qua sự hợp tác với Công ty BAT (British America Tobacco PLC).

“Thị trường đang đ̣i hỏi các sản phẩm cao cấp, ít độc hại, buộc nhà sản xuất phải t́m cách đáp ứng”, Phó tổng Giám đốc Vinataba, ông Nguyễn Tiến Dũng, nói về lư do của sự hợp tác này. Để sản xuất 200 triệu bao thuốc lá ngoại/năm (trong đó có 50 triệu bao xuất khẩu), Vinataba sẽ giảm tương ứng số lượng thuốc lá không đầu lọc để không thay đổi tổng dung lượng sản xuất.

Quan trọng hơn, Vinataba có thể nắm bắt cơ hội trở thành đầu mối xuất khẩu thuốc lá của BAT tại khu vực châu Á. Dự kiến việc hợp tác này sẽ tăng thu cho ngân sách nhà nước khoảng 100 tỷ đồng/năm.

Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cũng đă đặt mục tiêu trong năm nay phải mua 2-4 nhăn hiệu nổi tiếng của nước ngoài để phát triển song song với các thương hiệu hiện có, nâng “tầm” giá trị ngành dệt may Việt Nam và chiếm lĩnh thị trường thời trang cao cấp.

Không tiết lộ về những cái tên được chọn nhưng ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinatex, cho biết chắc chắn những thương hiệu ngoại sẽ làm thị trường thêm sôi động, phong phú, kích thích tiêu dùng đối với giới thượng lưu.

“Nhiều người nói tại sao không tự xây dựng thương hiệu của ḿnh xài mà đi mua cái của người khác làm ǵ. Nhưng rơ ràng nhu cầu của người tiêu dùng là vô hạn. Người ta vẫn phải nhập lậu hay làm nhái hàng hiệu, vậy tại sao chúng ta không mua bán công khai?”, ông Ân nói

Sự năng động của doanh nghiệp tư nhân An Phước khi mua quyền sử dụng thương hiệu Pierre Cardin cách đây nhiều năm để “lên đời” thương hiệu An Phước là kinh nghiệm lớn cho các doanh nghiệp khác. Ngoài An Phước, đă có thêm hai doanh nghiệp khác mua quyền sử dụng nhăn hiệu Pierre Cardin ở các ḍng sản phẩm vớ, thời trang dành cho phụ nữ, trẻ em.

Một “đại gia” khác là Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) cũng không đứng ngoài cuộc. Vinamilk vừa được Chính phủ cho phép liên doanh với Công ty SABMiller Asia B.V (Hà Lan), có thương hiệu bia Miller nổi tiếng, để góp vốn xây dựng một nhà máy sản xuất bia trị giá 45 triệu USD. Năm 2005, “đại gia” này đă liên doanh với Công ty Campina (Hà Lan) để sản xuất các sản phẩm sữa cao cấp.

Chờ luật điều chỉnh

Nhượng quyền thương mại (franchising) du nhập vào Việt Nam từ những năm 1990. Các hoạt động, nhượng quyền thương mại đạt doanh số 1,5 triệu USD vào năm 1996 và đang tăng trưởng với tốc độ khoảng 15%-20%/năm và hiện nay đang được áp dụng tại 70 hệ thống kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau (số liệu của Hội đồng Nhượng quyền Thương mại Thế giới - WFC).

Theo các chuyên gia kinh tế, nhượng quyền thương mại chỉ hoạt động hết công suất của nó khi các pháp luật của thị trường cho phép. Trước khi Luật Thương mại có hiệu lực, các trường hợp nhượng quyền thương mại thường phải đi đường ṿng.

Chẳng hạn, chuỗi nhà hàng KFC là một dạng nhượng quyền thương hiệu nhưng kư hợp đồng từ Philippines chứ không kư ở Việt Nam. Cũng v́ thiếu luật, đoàn 20 doanh nghiệp Việt Nam lần đầu tiên đi dự triển lăm ngành thuê mua thương hiệu – nhượng quyền kinh doanh (IFE) diễn ra tại Mỹ vào tháng 10-2005 đă nhắm được một vài thương hiệu nhưng không dám triển khai v́ lo ngại có vấn đề phát sinh th́ luật pháp không hỗ trợ và can thiệp được.

Nghị định 35/2006 ngày 31-3 của Chính phủ là văn bản đầu tiên cụ thể hóa các quy định về nhượng quyền thương mại theo Luật Thương mại. Theo quy định này, bên nhượng quyền thương mại phải hoạt động tối thiểu một năm ở Việt Nam, các thương nhân phải đăng kư vào sổ đăng kư hoạt động nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, nghị định này vẫn đang chờ thông tư hướng dẫn


Nguồn tin lấy từ: www.nhandan.com.vn



9. Đă đến hồi nóng bỏng?

Ngày 21-4, Hội đồng giám định về sở hữu công nghiệp (SHCN) do Bộ Khoa học - Công nghệ (KHCN) thành lập đă họp đánh giá, kết luận về khả năng phân biệt giữa hai nhăn hiệu “H́nh” của Cty cổ phần hóa nông Lúa Vàng (L.V) và Cty Sygenta Participation (Thụy Sĩ).

Ai đúng, ai sai ?


Sự việc có nội dung như sau. Ngày 2-12-2005, Cty Tư vấn đầu tư và chuyển giao công nghệ (Investconsult) đại diện cho Cty Syngenta Participation (S.P) có đơn số 647/VP-NH/ĐT gửi Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) đề nghị thẩm định về việc xâm phạm quyền SHCN đối với nhăn hiệu hàng hóa (NHHH) đang được bảo hộ của Cty S.P đối với Cty L.V. Ngày 14-12-2005, Cục SHTT có công văn số 2472/SHTT-TTKN gửi Cty Investconsult nêu rơ: Cty S.P đă được cấp đăng kư quốc tế (ĐKQT) số 754902 bảo hộ nhăn hiệu “H́nh” cho nhiều sản phẩm trong đó có các chế phẩm diệt động vật gây hại, diệt nấm, diệt cỏ, thuốc trừ sâu thuộc nhóm 05. Mẫu sản phẩm thuốc trừ bệnh nội hấp, lem lép hạt hại lúa của Cty L.V mang nhăn hiệu “Cure SUPE & H́nh” có phần “H́nh” tương tự với nhăn hiệu đang được bảo hộ theo ĐKQT số 754902. Do đó, việc sản xuất, buôn bán các sản phẩm thuốc trừ bệnh nội hấp, lem lép hạt hại lúa mà không do chủ nhăn hiệu hoặc người được chủ nhăn hiệu cho phép sản xuất sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và là hành vi xâm phạm quyền SHCN của chủ nhăn hiệu hàng hóa được quy định tại Điều 805 Bộ luật Dân sự. Sau khi nhận được khiếu nại quyết định 2472, Cục SHTT tiếp tục có công văn thông báo giữ nguyên kết luận nói trên. Không đồng ư với quyết định trên, Cty L.V đă có đơn gửi Bộ KHCN khiếu nại kết luận giám định nêu trên.

Văn pḥng luật sư WINCO, đơn vị được Cty L.V ủy quyền cho rằng: Đường bao trên nhăn sản phẩm của Cty L.V mà Cục SHTT viện dẫn không phải là NHHH theo quy định của pháp luật cũng như không có chức năng làm NHHH trên nhăn sản phẩm này nên việc so sánh nó với một nhăn hiệu đă được đăng kư là không phù hợp. Việc tách riêng đường bao trên nhăn sản phẩm của Cty L.V ra khỏi tổng thể nhăn sản phẩm để so sánh rồi kết luận về sự tương tự gây nhầm lẫn của cả một nhăn sản phẩm cũng không hợp lư. Về tổng thể cũng như chi tiết, nhăn sản phẩm mang nhăn hiệu “Cure SUPE và H́nh” của Cty L.V hoàn toàn không tương tự với nhăn hiệu theo ĐKQT số 754902 để có thể gây nhầm lẫn. Do đó, việc sử dụng nhăn sản phẩm này không phải là hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với chủ nhăn hiệu theo ĐKQT số 754902...

Theo ông Lê Văn Kiều, Chánh thanh tra Bộ KHCN, sau khi Hội đồng giám định có kết luận, Bộ sẽ có quyết định kết luận về vấn đề này trong thời gian sớm nhất...

“lập lờ đánh lận con đen”


Câu chuyện trên chỉ là một trong số rất nhiều vụ tranh chấp về quyền SHTT xảy ra ở nước ta thời gian gần đây. Có điều chắc chắn rằng, trong những vụ tranh chấp về SHTT, ngoài lợi ích của những đơn vị kinh doanh trung thực bị ảnh hưởng, người thiệt tḥi nhất chính là người tiêu dùng. Dù công lư đứng về bên nào, sự kiện này cũng thêm căn cứ để khẳng định vấn đề tranh chấp quyền SHTT đang có dấu hiệu trở thành phổ biến; mức độ nghiêm trọng và phức tạp của t́nh h́nh tranh chấp, xâm phạm có dấu hiệu gia tăng.

Cụ thể, những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, số vụ việc xâm phạm mà Cục SHTT được báo cáo mỗi năm là vài chục th́ gần đây đă tăng lên đáng kể. Năm 2003, số vụ việc được phát hiện là 326, trong đó có 23 vụ về sáng chế, 43 về kiểu dáng công nghiệp và 260 về NHHH. Trong giai đoạn 2004- 2005, số vụ vi phạm c̣n tăng cao hơn khi sức ép trong việc thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và chuẩn bị cho việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng tăng lên. Điều đáng lưu ư là Bộ KHCN cho rằng, số vụ xâm phạm trong thực tế c̣n lớn hơn nhiều so với những số liệu nêu trên.

Theo Bộ KHCN, hầu như mọi chủng loại sản phẩm hàng hóa đều có hàng nhái, hàng có chứa yếu tố vi phạm SHCN. Từ các sản phẩm tiêu dùng thông thường như: thực phẩm, đồ uống, quần áo, giày dép, đồ vệ sinh cá nhân đến đồ gia dụng hoặc các sản phẩm cao cấp, đặc dụng như mỹ phẩm, dược phẩm... đều có các sản phẩm nhái nhăn hiệu, sao chép kiểu dáng hoặc mang các chỉ dẫn địa lư giả mạo. Xâm phạm SHTT xảy ra ở cả khu vực sản xuất, chế biến, lưu thông và xuất nhập khẩu trong đó phổ biến nhất là ở khâu lưu thông và nhập khẩu. Hàng nhái, hàng sao chép phi pháp có mặt ở cả thành thị lẫn nông thôn, kể cả các siêu thị và trung tâm thương mại lớn.

Đối tượng dễ bị vi phạm, dẫn đến tranh chấp về SHTT có thể phát sinh là việc “nhái” sản phẩm của các đơn vị sản xuất có uy tín trên thị trường. Theo Cty Unilever Việt Nam chuyên sản xuất hóa mỹ phẩm và chất giặt tẩy, từ năm 2000 đến nay, tổng cộng có trên 60 mẫu mă sản phẩm nhái các nhăn hiệu của đơn vị bị Cục SHTT kết luận có vi phạm. Trị giá buôn bán hàng giả các nhăn hiệu của Unilever tại Việt Nam ước tính bằng con số cả triệu USD. Sự vi phạm được thể hiện dưới nhiều h́nh thức nhưng chủ yếu là hàng có chất lượng kém hơn nhưng lợi dụng mẫu mă gần giống và tên gọi na ná với loại hàng được ưa chuộng.

Trong quá tŕnh đàm phán gia nhập WTO, các đối tác của nước ta luôn đề cao vai tṛ của việc thực thi quyền SHTT. Với thực tiễn pháp lư cũng như những ǵ đang xảy ra, chúng ta sẽ không quá ngạc nhiên khi thời gian tới được chứng kiến việc đối tác nước ngoài khởi kiện các đơn vị trong nước với lư do xâm phạm quyền SHTT. Đáng tiếc rằng, sự nhận thức về vấn đề và vai tṛ của SHTT ở nước ta đến nay vẫn là câu hỏi lớn


Văn Giang thực hiện
Nguồn tin lấy từ: www. Hanoimoi.com.vn

 

10. Giống về bố cục!


Xâm phạm sở hữu công nghiệp (SHCN) luôn là vấn đề nóng bỏng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, những vụ việc được đưa ra xử lư theo tŕnh tự hành chính, tư pháp vẫn c̣n rất hạn chế. Phải chăng nó vẫn chưa có một quy tŕnh hiệu quả, nhanh gọn để giải quyết khiến cho các DN vi phạm... "nhờn thuốc".


Ngày 21/4/2006, Bộ Khoa học và Công nghệ đă nghe các bên liên quan tŕnh bày cũng như nghiên cứu hồ sơ vụ việc để đánh giá và đưa ra kết luận về khả năng phân biệt việc có hay không hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhăn hiệu hàng hoá (NHHH) đă được bảo hộ của Cty Syngenta (Thuỵ Sĩ).


NHHH của Cty Syngenta đă được VN bảo hộ và cấp Đăng kư quốc tế số 754902 từ khá lâu. Đến tháng 5/2005 trên thị trường VN đă xuất hiện một loại sản phẩm có cùng công dụng thuốc trừ bệnh nội hấp, lem lép hạt lúa như của Cty Syngenta do Cty cổ phần hoá nông Lúa Vàng sản xuất. Nhưng NHHH sản phẩm trên của Cty Lúa Vàng lại có h́nh thức khá giống với NHHH cùng loại của Cty Syngenta.


Ngày 02/12/2005, Cty Tư vấn và Chuyển giao công nghệ Investconsult đại diện cho Cty Syngenta đă có đơn đề nghị thẩm định việc xâm phạm NHHH của Cty này đối với Cty Lúa Vàng. Ngày 14/12/2005, Cục SHTT có CV số 2472 nêu rơ: Cty Syngenta đă được cấp đăng kư quốc tế độc quyền số 754902 bảo hộ nhăn hiệu "h́nh" cho nhiều sản phẩm trong đó có các chế phẩm diệt động vật gây hại, diệt cỏ, thuốc trừ sâu... thuộc nhóm 05. Mẫu sản phẩm thuốc trừ bệnh nội hấp, lem lép hạt lúa của Cty Lúa Vàng mang nhăn hiệu "Cure SUPE và h́nh" có phần "h́nh" tương tự nhăn hiệu được bảo hộ, dễ gây nhầm lẫn. V́ vậy, đây là hành vi xâm phạm quyền SHCN của chủ NHHH quy định tại Điều 805 Bộ luật Dân sự.


Ngày 12/2/2006, Cty Lúa Vàng đă có đơn khiếu nại tới Bộ KH-CN về kết luận của Cục SHTT. Bộ trưởng Bộ KH-CN đă quyết định thành lập Hội đồng giám định về SHCN để đánh giá, kết luận về khả năng phân biệt giữa hai nhăn hiệu "h́nh" của Cty Lúa Vàng và Cty Syngenta.


LS Lê Xuân Hoàng - Trưởng văn pḥng LS Winco đại diện cho Cty Lúa Vàng cho rằng, đường bao quanh NHHH của Cty Lúa Vàng cũng có h́nh thức mất góc như của Cty Syngenta nhưng đường bao này không có chức năng làm nhăn hiệu hàng hoá. H́nh thức NHHH của Cty Lúa Vàng có h́nh "bồ lúa vàng" chứ không phải "hạt thóc vàng" như của Cty Syngenta.


Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh Hồng - Phó pḥng Thực thi giải quyết khiếu nại (Cục SHTT) lại cho rằng, NHHH của Cty Lúa Vàng có bố cục, màu sắc sao chép với NHHH của Cty Syngenta. Đây là điểm sẽ gây nhầm lẫn cho người nông dân khi sử dụng khi hai sản phẩm này. Theo ông Hồng - Cục SHTT đă ra quyết đinh xử lư nhiều mẫu NHHH của các DN sản xuất sản phẩm cùng công dụng nhưng đă sao chép h́nh thức NHHH của các DN đă đăng kư bảo hộ và đây là một điển h́nh. Việc các DN sản xuất các mặt hàng cùng loại với các DN khác nhưng có sản phẩm ra sau thường làm NHHH có h́nh thức gần giống sản phẩm đi trước hiện nay vẫn khá phổ biến.


Cty Lúa Vàng cũng đă uỷ quyền cho Văn pḥng LS Đồng Tâm tiến hành trưng cầu ư kiến của 200 người đánh giá khả năng phân biệt NHHH của 2 Cty trên. Nhưng theo ông Quách Minh Trí - GĐ Dịch vụ SHTT, Cty Investconsult, việc trưng cầu ư kiến xă hội này không có tính khách quan. Do đó, kết quả này không có giá trị để thẩm định.


Để giải quyết các tranh chấp SHCN không phải DN nào cũng có đủ điều kiện về kinh phí và thời gian để theo đuổi đến cùng. Chỉ có một vụ việc này nhưng Bộ KH-CN cũng đă phải đầu tư không ít nhân lực, vật lực để thành lập Hội đồng thẩm định. Nên chăng các DN cần có những thiết kế khác hẳn hoặc chí ít cũng cần có tiêu chí riêng. Có như vậy những vụ việc như thế này mới giảm dần và... mất hẳn.


Theo chúng tôi NHHH của hai loại sản phẩm này tương đối giống về bố cục. Tuy nhiên, không biết Hội đồng thẩm định sẽ có kết luận thế nào? Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin tới bạn đọc.


Nguồn tin lấy: www.dddn.com.vn

Advertisement

Công ty tư vấn luật LEADCO

 

  

Footer

Cá nhân và tổ chức sử dụng thông tin của SMEnet phải ghi rơ địa chỉ http://www.SMEnet.com.vn

Góp ư xin gửi thư về webmaster@smenet.com.vn

Web site này do Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) hợp tác phát triển