|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 30
(Tuần từ
03/04 - 16/04/2006)
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng
kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
1. 50% số thương hiệu nổi tiếng tại VN là của VN
Tại cuộc họp báo công bố kết quả khảo sát thương hiệu nổi
tiếng tại VN ngày 21-3, ông Joe Wheller, Giám đốc bộ phận nghiên cứu
định lượng của ACNeilsen VN-đơn vị thực hiện cuộc khảo sát-cho biết,
trong số 500 thương hiệu nổi tiếng nhất được công bố, có gần 50% là
thương hiệu VN.
Cũng theo ông Joe Wheller, trong 10 thương hiệu nổi tiếng nhất xét
theo 10 ngành hàng th́ bất động sản, thời trang và đồ dùng lâu bền
không dùng điện là 3 ngành hàng có thương hiệu nổi tiếng nhất.
Với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, kết hợp với phỏng vấn trực tiếp
3.000 người trong độ tuổi từ 15 đến 60 về 1.000 nhăn hiệu thuộc 10
ngành hàng lớn, các kết quả khảo sát "Thương hiệu nổi tiếng tại VN"
được các chuyên gia kinh tế đánh giá đạt độ trung thực và chính xác
cao.
Ban tổ chức sẽ công bố và trao giải "Tầm nh́n 2006", giấy chứng nhận
chính thức cho các doanh nghiệp đạt giải trong đêm hội "Tầm nh́n
thương hiệu" vào tối 5-4 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.
Nguồn tin
lấy từ:
www.pfdc.com.vn
2. Động lực cho thương hiệu Việt
Tối 5/4/2006 tại Nhà hát lớn Hà Nội đă diễn ra chương
tŕnh đêm hội "Tầm nh́n thương hiệu" và lễ công bố, trao giải những
thương hiệu nổi tiếng tại VN năm 2006 do VCCI phối hợp với Cty Life
Media và Cty nghiên cứu thị trường ACNielsen tổ chức. 10 thương hiệu
nổi tiếng nhất tại VN đă được khẳng định tên tuổi, trong đó có gần
50% là các thương hiệu VN.
Hàng trăm DN, đại diện cho các thương hiệu nổi tiếng ở VN đă tới
tham dự chương tŕnh và chứng kiến ngày “lên ngôi” của các thương
hiệu nổi tiếng nhất tại VN.
Phát biểu tại lễ trao giải, ông Nguyễn Phúc Thanh - Phó Chủ tịch
Quốc Hội cho rằng thành công của chương tŕnh một lần nữa khẳng định
sự nỗ lực vươn lên nhằm xây dựng những thương hiệu mạnh của các DN,
nhất là các DNVN để chuẩn bị hành trang trên con đường hội nhập vào
nền kinh tế thê giới.ë
Bất ngờ thương hiệu Việt!
Một trong những kết quả được coi là "bất ngờ" đối với chính những
chuyên gia nghiên cứu thị trường ACNielsen VN khi khảo sát người
tiêu dùng VN về các thương hiệu trên thị trường là trong số 500
thương hiệu nổi tiếng có gần 50% là thương hiệu của DN VN. Hơn thế,
theo ông Joe Wheller - Giám đốc Cty ACNielsen VN, 3 trong 10 ngành,
lĩnh vực được đề cập đến trong dự án này có các thương hiệu Việt dẫn
đầu.
Nhiều DN có mặt tại đêm hội cho rằng, chương tŕnh "Thương hiệu nổi
tiếng tại VN" thực sự là một cuộc “kiểm tra sức khoẻ” đối với các
thương hiệu VN. Mặc dù đây không phải là lần đầu tiên chương tŕnh
thương hiệu mạnh được tổ chức, nhưng đây lại là lần đầu tiên người
tiêu dùng được chứng kiến sự ra mắt của 500 thương hiệu nổi tiếng
tại VN với 10 thương hiệu hàng đầu và 10 thương hiệu Việt nổi tiếng
nhất đại diện cho 10 ngành hàng tiêu biểu tại VN theo đánh giá của
chính người dân, người tiêu dùng trong cả nước.
Ban Tổ chức cho biết, chương tŕnh được thực hiện với quy mô lớn
nhất từ trước đến nay nên đă phản ánh chính xác vị trí của các
thương hiệu trong xă hội. Điều đáng mừng là số lượng thương hiệu
Việt được người tiêu dùng b́nh chọn đă chiếm một tỷ lệ khá lớn. Điều
đó chứng tỏ quan niệm chỉ có các sản phẩm nước ngoài mới bền, tốt đă
không c̣n đúng. Các sản phẩm do chính người Việt làm ra đang ngày
càng có chỗ đứng trên thị trường, điều đó cũng đồng nghĩa với việc
khẳng định hướng đi đúng của các DN VN trong nỗ lực quảng bá, đưa
sản phẩm tới tay người tiêu dùng nội địa.
Trong số 10 thương hiệu nổi tiếng, người ta thấy có tới 3 đại diện
của VN. Đó là các tên tuổi mà từ lâu đă trở thành những "người bạn"
rất gần gũi đối với người tiêu dùng là gạch Đồng Tâm, giày dép
Biti’s và đệm mút Kim Đan. Ông Nguyễn Thanh Tùng - Đại diện Cty CP
Vinacafé Biên Ḥa cho biết: “Thế giới đă biết đến VN như một dân tộc
anh hùng. Tất cả chúng ta ở đây và hàng triệu người VN trước màn ảnh
nhỏ đều hi vọng, thương hiệu VN sẽ sở hữu thêm một ư niệm mới: một
dân tộc thông minh và không ngừng vươn lên".
Tuy nhiên, nếu nh́n tổng thể các thương hiệu Việt nổi tiếng được
b́nh chọn, người ta dễ dàng nhận thấy rằng đa số các thương hiệu này
tập trung ở khu vực phía Nam. Điều này cho thấy các DN phía Nam đă
quan tâm đầu tư xây dựng thương hiệu hơn các khu vực khác trong cả
nước. Nhất là ở 10 thương hiệu nổi tiếng nhất VN trong đó cả 3 DN VN
được b́nh chọn đều là các DN nằm ở khu vực phía Nam.
Thương hiệu đi liền với chất lượng
Tâm sự tại lễ trao giải, ông Alain Cany - Tổng Giám đốc HSBC Việt
Nam cho rằng để tồn tại và thành công trong môi trường cạnh tranh
ngày càng gay gắt, các DN phải xây dựng được những thương hiệu vững
mạnh, những thương hiệu đi liền với chất lượng cao, dịch vụ khách
hàng tốt và ḷng tin của người tiêu dùng.
Chia sẻ kinh nghiệm của ḿnh, ông cho rằng, xây dựng thương hiệu là
một quá tŕnh lâu dài và đ̣i hỏi những nỗ lực chung từ lănh đạo cấp
cao cho tới nhân viên ở tất cả các cấp. điều đó không thể diễn ra
ngày một ngày hai. Ngày nay, khách hàng thường có xu hướng t́m đến
những nhăn hiệu mang lại cho họ nhiều hơn cái mà họ mong muốn. Những
thương hiệu thành công là những thương hiệu mang lại một mức độ cảm
xúc vượt ra ngoài các sản phẩm và dịch vụ mà khách hàng nhận được.
Những thương hiệu này đại diện cho những ǵ mà khách hàng đánh giá
cao.
C̣n ông Trần Phương B́nh- TGĐ Ngân hàng Đông Á khi lên nhận giải
thưởng "Thương hiệu VN nổi tiếng nhất" ngành ngân hàng - tài chính -
bảo hiểm tâm sự: “Với định hướng quần chúng hoá dịch vụ ngân hàng"
và "b́nh dân hoá kỹ thuật ngân hàng hiện đại", có thể nói giải
thưởng này sẽ khích lệ và cổ vũ cho ngân hàng chúng tôi tiếp tục
triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại để đáp ứng nhu cầu cho
đông đảo người dân VN.
Thực tế cho thấy, trong không ít lĩnh vực, các thương hiệu của VN đă
tự tin và cạnh tranh thành công với các thương hiệu nước ngoài.
Chẳng hạn như: Vinacafé, Vinamilk... Tuy nhiên, ở một góc độ khác,
các thương hiệu nước ngoài cũng có vai tṛ rất quan trọng. Chính họ
đă đem đến một luồng không khí mới, một động lực thúc đẩy các thương
hiệu VN hoàn thiện hơn, đến gần các chuẩn mực quốc tế hơn. Những sản
phẩm, thương hiệu hàng đầu của các DN nước ngoài tại VN đă được
người tiêu dùng b́nh chọn, trong đó có các tên tuổi như Nokia,
Metro, Cô gái Hà Lan, Honda, Sony... đă phần nào cho thấy họ đă có
chỗ đứng vững chắc trong ḷng người Việt. Điều đó cũng phản ánh đúng
với thực tế là những thương hiệu nổi tiếng bao giờ cũng đi kèm với
chất lượng tốt
Nguồn tin
lấy từ:
www.pfdc.com.vn
3. PR trong xây dựng thương hiệu
Quan sát xu hướng thế giới và hiện trạng PR ở Việt Nam,
tác giả chia sẻ một số suy nghĩ hữu ích cho các doanh nghiệp trong
công tác truyền thông và xây dựng thương hiệu.
Nếu xem xây dựng thương hiệu là tổng thể các điểm tương tác th́ PR
là một trong những công cụ chiến lược không thể thiếu trong việc
giúp doanh nghiệp hoàn thành sứ mệnh này.
PR, bí quyết chưa được hiểu và khai thác đúng
Quan hệ cộng đồng (Public Relations, hay viết tắt là PR), đóng vai
tṛ chiến lược trong xây dựng thương hiệu, đang là xu hướng trên thế
giới. Điều này không phải do tác động của các chuyên gia hay hiệp
hội PR mà đến từ những thành công của các thương hiệu lớn trong thực
tế như Starbucks, Microsoft, Body Shop…
Sự thành công của nhiều thương hiệu mạnh không dựa vào mô h́nh quảng
cáo đại trà truyền thống, đă khiến các chuyên gia thương hiệu lúng
túng và tự hỏi đâu là bí quyết truyền thông của các thương hiệu này?
Các phân tích và nghiên cứu sau đó đă thừa nhận tác nhân chính là
PR.
Trong cuốn sách Quảng cáo thoái vị và PR lên ngôi, tác giả Al Ries,
một chuyên gia thương hiệu hàng đầu thế giới, đă viết: “Một thương
hiệu tung ra mà không có hy vọng chiến thắng trên trận địa PR th́
thất bại đă có thể nh́n thấy”.
Ở đây không đề cập đến công cụ nào tốt hơn: PR, quảng cáo hay các
kênh quảng bá khác… mà chỉ muốn nhắc lại tầm quan trọng chiến lược
của PR trong xu hướng xây dựng thương hiệu mà thế giới đă nh́n nhận,
nhưng chưa được các doanh nghiệp ở Việt Nam quan tâm đúng mức.
Tại một buổi hội thảo về đề tài PR được tổ chức vào đầu năm nay,
không ít nhà doanh nghiệp đă nêu lên trăn trở: “Sản phẩm của công ty
tôi rất b́nh thường, vậy làm sao để các kênh truyền thông quan tâm
mà khai thác PR?”.
Quả là một câu hỏi hóc búa không chỉ dành cho các chuyên gia PR mà
c̣n cho cả các doanh nghiệp. Nếu sản phẩm của bạn là tiên phong
trong ngành, th́ không có ǵ để bàn căi. Bởi yếu tố tiên phong khá
đủ để thu hút báo chí và các kênh truyền thông. Nếu sản phẩm của bạn
không phải là tiên phong nhưng có nét khác biệt th́ bài toán cũng dễ
t́m lời giải.
Nhưng nếu sản phẩm của bạn không tiên phong, có nghĩa là đi sau… mà
cũng chẳng có nét khác biệt đáng kể th́ điều này không chỉ là thách
thức cho PR, xây dựng thương hiệu mà c̣n cho chính doanh nghiệp!
Trong những trường hợp này, doanh nghiệp vẫn có thể khai thác PR và
nếu được khai thác đúng, công cụ này sẽ giúp doanh nghiệp tạo nên sự
khác biệt trong thương hiệu bằng chính chiến lược truyền thông. Rất
nhiều cách tác nghiệp PR- chẳng hạn tổ chức một sự kiện đặc biệt,
tài trợ một chương tŕnh hấp dẫn, hoặc một hoạt động mang tính cộng
đồng - nếu được sáng tạo độc đáo, vẫn tạo được sức hút đối với giới
truyền thông.
Starkist, một nhăn hiệu cá ngừ đóng hộp ở Anh, là một điển cứu kinh
điển. Để tạo sự khác biệt với các đối thủ, Starkist đă khởi động
chiến dịch Chia sẻ t́nh yêu ẩm thực Anh Quốc, với kế hoạch truyền
thông tổng hợp lấy PR làm trọng tâm, bao gồm tài trợ cuộc thi
Marathon quốc gia hoành tráng, kèm theo những hoạt động quảng bá
thương mại nhưng mang tính cộng đồng cao.
Kết quả, chiến dịch này đă giúp Starkist có được cảm t́nh từ người
tiêu dùng nhiều hơn tất cả các nhăn hiệu cùng ngành. Chính PR đă tạo
nên sự khác biệt này trong hàng loạt các đối thủ cạnh tranh có sản
phẩm tương tự.
Đóng vai tṛ xây dựng sự hiểu biết và niềm tin, PR không chỉ giúp
doanh nghiệp tương tác với khách hàng mà c̣n với nhiều đối tượng bên
ngoài khác như chính phủ, cộng đồng, nhà đầu tư, nhà cung cấp, giới
truyền thông, thậm chí với cả thành viên trong nội bộ công ty. Nếu
xem xây dựng thương hiệu là tổng thể các điểm tương tác th́ PR là
một trong những công cụ chiến lược không thể thiếu trong việc giúp
doanh nghiệp hoàn thành sứ mệnh này
PR ở VN đang được sử dụng thế nào?
Quan sát trên thị trường có thể nhận thấy rất ít doanh nghiệp VN sử
dụng PR chuyên nghiệp trong xây dựng thương hiệu, mặc dù họ có thể
chi rất nhiều tiền cho quảng cáo đại trà! Một số doanh nghiệp khác
th́ có sử dụng PR, nhưng chưa hiểu đủ và nhận thức đúng về nó.
Không ít doanh nghiệp cho rằng làm PR đơn giản chỉ là t́m cách xuất
hiện trên truyền h́nh, đăng h́nh hoặc nêu tên công ty ḿnh trên mặt
báo mà không chú ư đến thông điệp và cách thức xuất hiện như thế nào?
Một số công ty khác lại đồng hóa PR với tổ chức sự kiện hay tham gia
tài trợ một chương tŕnh nào đó, và chưa quan tâm đến yếu tố truyền
thông.
Gần đây, sự cải tiến các trang quảng cáo của nhiều tờ báo đă tạo đất
cho hoạt động PR mà nhiều công ty đang khai thác. Thật ra đây là
cách dễ làm nhất của dân PR, v́ bản chất là mua trang quảng cáo
nhưng viết bài theo kiểu PR, dân trong nghề gọi là Advertorial (tự
giới thiệu).
So với cách tác nghiệp PR truyền thống như đưa tin, bài viết, phỏng
vấn… h́nh thức Advertorial nói chung có độ tin cậy kém hơn. Ưu điểm
ở đây là các doanh nghiệp có thể chuyển tải thông tin, h́nh ảnh một
cách đầy đủ nhất đến bạn đọc, v́ không sợ ban biên tập của tờ báo
chỉnh sửa, cắt xén nội dung…! Mặt khác, so với các h́nh thức quảng
cáo thông thường, cách này dường như được tin cậy hơn v́ có vẻ
“giông giống” như một bài viết!
Tuy nhiên, nếu h́nh thức này bị lạm dụng sẽ dễ tạo nên nhận thức
nhập nhằng PR là quảng cáo. Một khi doanh nghiệp tiến hành một chiến
dịch PR thật sự cho thương hiệu th́ tính tin cậy có thể bị nhận thức
kém hơn do hậu quả đă tạo nên trước đó.
Nét khác biệt kinh điển giúp PR tạo nên sự tin tưởng hơn quảng cáo ở
chỗ “PR là người khác nói về ḿnh, trong khi quảng cáo là ḿnh nói
về ḿnh”. Do đó, các h́nh thức Advertorial nếu biết khai thác đúng
yếu tố cốt lơi trên sẽ trở thành PR, ngược lại sẽ không khác ǵ một
trang quảng cáo. Hơn nữa, nếu đă gọi là “bên thứ ba nói về ḿnh” th́
không thể nhiều báo khác nhau (bên thứ ba) đăng cùng một bài viết,
cùng nội dung, h́nh ảnh và thậm chí là h́nh thức.
Những phân tích trên nhằm phản ánh hiện trạng một số doanh nghiệp
hiểu chưa đầy đủ và nhận thức đúng về vai tṛ của PR tại Việt Nam.
Điều này có thể nhận thấy qua bảng phân bổ ngân sách truyền thông
hàng năm. Ngân sách cho PR hoặc không có, hoặc chỉ chiếm một tỷ lệ
rất nhỏ so với các hoạt động quảng cáo khác.
Tuy thế cũng có vài doanh nghiệp Việt Nam thực hiện tốt công tác PR.
Các chiến dịch quảng bá bằng PR cho phim Những cô gái chân dài của
hăng phim Thiên Ngân, Chương tŕnh ánh sáng học đường của Công ty
Điện Quang… qua hàng loạt các bài báo, kênh truyền thông đưa tin đă
góp phần quan trọng tạo nên thành công của các thương hiệu này.
Sử dụng PR thế nào cho đúng?
Người chịu trách nhiệm quản trị thương hiệu cao nhất trong doanh
nghiệp chính là giám đốc, chủ doanh nghiệp. Ban giám đốc phải nhận
thức đúng vai tṛ chiến lược của PR và như thế mới phân bổ nguồn lực
và đầu tư thích đáng cho PR trong tổ hợp các công cụ truyền thông
thương hiệu. Một chiến lược PR cần được xây dựng ngay từ đầu trong
tổng thể chiến lược thương hiệu.
Doanh nghiệp VN mới bắt đầu quá tŕnh xây dựng thương hiệu và c̣n
khá lạ lẫm đối với PR, trong khi công tác PR đ̣i hỏi tính chuyên
nghiệp cao và bắt buộc phải hiểu thấu đáo về công cụ chiến lược này.
Nếu doanh nghiệp không tự tin với nguồn lực nội bộ th́ nên cộng tác
với các chuyên gia bên ngoài. Với sứ mệnh là “xây dựng sự hiểu biết
và tạo niềm tin”, PR cần được hoạch định và chuyển tải một cách
chuyên nghiệp nhưng hết sức tự nhiên.
Nguồn tin
lấy từ:
www.pfdc.com.vn
4. Tranh chấp "nàng thơm chợ đào ở... Mỹ"
Theo Sở KH-CN tỉnh Long An, gạo Nàng thơm Chợ Đào (NTCĐ)
có những đặc trưng về chất lượng mà không loại gạo nào có được. Hạt
gạo chắc, đều, có thể để lâu mà không bị mất mùi, đốm vàng hay sứt
vỡ. Hương thơm của gạo NTCĐ tồn tại rất lâu và nông dân có thể ngửi
để phân biệt với loại gạo khác. Khi nấu chín, cơm dẻo, vị ngọt dịu
thanh tao và không bị ôi thiu sau 12 giờ... Những đặc trưng này chỉ
có được khi trồng trên đất Chợ Đào và theo quy tŕnh riêng của người
dân. Nhiều nơi đă mua lúa giống NTCĐ ở đây về gieo trồng nhưng chất
lượng gạo vẫn không thể cho mùi thơm như gạo NTCĐ "xịn"!
Chỉ có hơn 1.000 hộ dân xă Mỹ Lệ trồng NTCĐ trên 541 ha, sản lượng
trung b́nh 1.000 tấn/năm không đủ cung cấp cho người dân TP.HCM làm...quà
biếu chứ chưa nói đến xuất khẩu. UBND tỉnh Long An xác định NTCĐ là
tài sản vô giá, cần phải ǵn giữ nên đă đề nghị tiến hành đăng kư
nhăn hiệu, xuất xứ hàng hoá trong và ngoài nước. Bất ngờ, khi tra
cứu dữ liệu trên cơ sở dữ liệu của Văn pḥng đăng kư nhăn hiệu và
sáng chế Mỹ, Cty Sở hữu công nghiệp (INVESTIP- Bộ KH-CN), đơn vị
được uỷ thác tư vấn pháp lư tiến hành các thủ tục cần thiết đă phát
hiện có một nhăn hiệu trùng xuất xứ và na ná tên đă được cấp cho Cty
Cao Nguyên (Oklahoma - Mỹ) từ năm 2002.
Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ (GĐ chi nhánh INVESTIP tại TP.HCM) cho biết,
nhăn hiệu hàng hoá mà Cty Cao Nguyên được cấp tại Mỹ là "Nàng hương
Chợ Đào", cũng cho sản phẩm gạo thuộc nhóm 30. Nàng hương Chợ Đào
được dịch sang tiếng Anh là Miss Smell On Dao Market. Cty Cao Nguyên
đă đưa nhăn hiệu đó ra thị trường Mỹ từ năm 1999 và nộp đơn đăng kư
bảo hộ năm 2000. Không có tranh chấp, năm 2002, Cty Cao Nguyên đă
được cấp chứng nhận nhăn hiệu hàng hóa. Phía INVESTIP nhận định đây
có thể là việc đánh cắp nhăn hiệu tại thị trường nước ngoài. Ông
Nguyễn Tấn Vui, chủ nhiệm HTX Mỹ Lệ cho PV biết, Chợ Đào cũng có gạo
Nàng Hương nhưng đă không trồng từ nhiều năm nay. Hiện nơi đây chỉ
c̣n 2 giống chủ lực là Tài Nguyên Chợ Đào và NTCĐ. Hơn nữa chữ "Thơm"
và chữ "Hương" đồng nghĩa nên khả năng đây là kiểu "nhái" khá tinh
vi. Với phức tạp đó, gạo NTCĐ "xịn" chỉ có thể được bảo hộ trong
nước chứ không thể xuất khẩu. Đáng lo ngại hơn, khi hội nhập, thế
giới có sân chơi kinh tế chung, nhăn hiệu NTCĐ nguy cơ đối diện cuộc
chiến thương hiệu mà bài học nhiều nơi cho thấy sự thảm bại thuộc về...
kẻ yếu.
1.000 hộ dân xă Mỹ Lệ sản xuất khoảng 1.000 tấn gạo NTCĐ/năm. Nếu
với mức giá gạo cao nhất hiện nay 7.000đ/kg th́ 50.000 USD tiền kiện
cáo bằng tiền bán gạo NTCĐ của hơn 100 hộ dân xă Mỹ Lệ trong 1 năm.
Nông dân tụi tui lấy đâu ra chú ơi. .
Trước t́nh h́nh trên, Sở KH-CN Long An đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ
KH-CN) cấp nhanh nhăn hiệu và tên gọi xuất xứ gạo NTCĐ của HTX Mỹ
Lệ-đơn vị đại diện cho các hộ dân quản lư sử dụng nhăn hiệu để làm
cơ sở tiến hành thủ tục khởi kiện tại Mỹ. Năm 2005, Cục Sở hữu trí
tuệ chỉ cấp chứng nhận đăng kư nhăn hiệu NTCĐ cho HTX Mỹ Lệ. Theo
Phó Cục trưởng Trần Việt Hùng, do địa phương đề nghị cấp nhanh nên
trước mắt Cục cấp chứng nhận theo nhăn hiệu tập thể để bảo hộ trong
nước. C̣n chứng nhận xuất xứ hàng hoá chưa thể cấp ngay bởi một sản
phẩm muốn bảo hộ xuất xứ hàng hoá phải cần thêm thời gian để phân
tích kiểm nghiệm, chứng minh sản phẩm có đặc trưng phụ thuộc vào thổ
nhưỡng. Việc cấp trên chỉ có thể là một trong những yếu tố hậu thuẫn
chứ không tạo thành cơ sở pháp lư để yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực đăng kư
nhăn hiệu ở Mỹ.
Theo INVESTIP, HTX Mỹ Lệ chỉ có cách khởi kiện yêu cầu Cơ quan sáng
chế và nhăn hiệu Mỹ huỷ bỏ giấy chứng nhận của Cty Cao Nguyên như
thế mới đăng kư nhăn hiệu tại Mỹ được. Sở KH-CN Long An đă nhờ
INVESTIP liên hệ Văn pḥng luật sự tại Mỹ làm đại diện khởi kiện. Bà
Nguyễn Thị Bích Thủy cho biết, luật sư Mỹ cho rằng phía Việt Nam cần
cung cấp thêm nhiều chứng cứ nữa bởi sự phức tạp của luật Mỹ và đ̣i
chi phí thấp nhất cũng...50.000 USD! Hạt gạo NTCĐ đang trong cảnh
tiến thoái lưỡng nan!
Đại diện văn pḥng luật sư Mỹ
Hiện nay vẫn có thực tế nhà sản xuất dù được coi là chủ nhăn hiệu
nhưng có thể thoả thuận cho phép nhà nhập khẩu đăng kư nhăn hiệu ở
Mỹ dưới tên của họ. V́ vậy khó có thể xác định loại gạo do Cty Cao
Nguyên bán ra có phải là Nàng hương Chợ Đào thật mà họ được uỷ quyền
nhập khẩu không. Hơn nữa, nhăn hiệu chỉ có vai tṛ nhất định trong
phạm vi từng lănh thổ. Đă có trường hợp nhăn hiệu có thể nổi tiếng
trên lănh thổ ḿnh nhưng vẫn có thể được đăng kư dưới Cty khác ở Mỹ
mà chủ sở hữu nước ngoài không thể kiện được. Luật Mỹ không thiên về
xuất xứ mà coi trọng việc sử dụng trước và uy tín rộng răi của nhăn
hiệu. Cty Cao Nguyên nếu chứng minh được họ đă sử dụng lâu dài, được
nhiều người biết đến sản phẩm th́ phần bất lợi sẽ nghiêng về HTX Mỹ
Lệ. V́ vậy rất khó đánh giá khả năng thành công vụ kiện.
Nguồn tin lấy từ:
www.angiang.gov.vn
5. Công bố 500 thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam năm 2006
Vừa qua Tạp chí Vietnam Business Forum, Công ty Truyền
thông Cuộc sống và Công ty Nghiên cứu Thị trường ACNielsen Việt Nam
đă phối hợp công bố kết quả dự án khảo sát “Thương hiệu nổi tiếng
Việt Nam". Đây là hoạt động nhằm tôn vinh những thương hiệu nổi
tiếng, góp phần nâng cao h́nh ảnh, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
Theo kết quả của ACNielsen Việt Nam đưa ra, trong số 500 thương hiệu
nổi tiếng được công bố, có tới gần 50% là thương hiệu Việt Nam. Điều
này chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây đă
rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản
phẩm.
10 thương hiệu nổi tiếng nhất xét theo từng ngành hàng lớn, 10
thương hiệu Việt Nam nổi tiếng nhất xét theo từng ngành hàng và 500
thương hiệu nổi tiếng sẽ được Ban Tổ chức công bố, trao giải: "Tầm
nh́n 2006" cũng giấy chứng nhận chính thức trong Đêm hội "Tầm nh́n
thương hiệu" sẽ được công bố vào ngày 5/4/2006 tại Nhà hát lớn Hà
Nội.
Điểm khác biệt lớn nhất của chương tŕnh so với các cuộc b́nh chọn
thương hiệu khác là kết quả đưa ra hoàn toàn khách quan dựa trên
đánh giá trực tiếp của người tiêu dùng thông qua Dự án khảo sát
“Thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam” do ACNielsen Việt Nam. Dựa trên
kết quả khảo sát này, các doanh nghiệp có thể đánh giá được thương
hiệu của ḿnh đang ở đâu trong nhận biết của người tiêu dùng.
Ngoài ra, Ban Tổ chức c̣n xuất bản ấn phẩm "Thương hiệu nổi tiếng
tại Việt Nam 2006" với số lượng 100.000 bản và ra mắt website:
www.thuonghieunoitieng.info để quảng bá, giới thiệu các thương hiệu
nổi tiếng tới cộng đồng doanh nghiệp, các đối tác, các tổ chức cúc
tiến thương mại, hiệp hội kinh tế trong và ngoài nước.
Nguồn tin lấy từ:
www.angiang.gov.vn
6.Việt Nam đang trong "tầm ngắm"?
Theo Cục quản lư cạnh tranh - Bộ Thương mại, với mức tăng
trưởng xuất khẩu (XK) hàng năm gần 20%, trong những năm gần đây,
Việt Nam liên tục phải đối mặt với các vụ kiện thương mại đối với
những mặt hàng XK chủ lực như thủy sản, xe đạp, giày dép... ở nhiều
thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU... Điều này một mặt cho thấy, Việt Nam
đă dần trở thành một sức mạnh mới trong giao lưu thương mại quốc tế.
Tuy nhiên, sự gia tăng liên tiếp của các vụ tranh chấp thương mại
cũng cho thấy Việt Nam đang nằm trong “tầm ngắm” của các rào cản
thương mại mới ở các thị trường XK.
* Số vụ kiện phá giá tăng mạnh
Theo Cục quản lư cạnh tranh - Bộ Thương mại, tính đến thời điểm này,
Việt Nam đă phải đối mặt với 25 vụ kiện liên quan tranh chấp thương
mại, trong đó có 21 vụ kiện bán phá giá và 4 vụ kiện tự vệ đối với
các sản phẩm. Nếu như giai đoạn 1994-2001, Việt Nam chỉ phải đối phó
với 1-2 vụ kiện/năm th́ đến các năm từ 2002 đến 2005 số vụ kiện liên
quan đến hàng hóa XK của VN tăng lên gấp nhiều lần. Đặc biệt, trong
năm 2004, các doanh nghiệp Việt Nam đă phải đối phó với 7 vụ kiện
liên tiếp liên quan đến nhiều loại mặt hàng khác nhau, từ sản phẩm
ṿng khuyên kim loại, sản phẩm xe đạp, chốt, then cửa bằng inox và
các phụ tùng, đèn huỳnh quang, tôm, ván lướt sóng, săm lốp xe đạp -
xe máy.
Đáng chú ư là trong số 18 vụ điều tra đă có kết quả, chỉ có 6 vụ có
quyết định không áp dụng thuế do hàng XK Việt Nam không gây thiệt
hại cho ngành sản xuất của nước NK, chiếm thị phần quá nhỏ hoặc do
bên khởi kiện rút đơn.
Ở giai đoạn trước, các mặt hàng XK của VN bị áp dụng biện pháp bán
phá giá chưa phải là những mặt hàng XK chiến lược như ḿ chính, bật
lửa... nên ảnh hưởng không lớn đến t́nh h́nh XK chung. Đây có thể là
một trong những lư do dẫn đến việc các doanh nghiệp của VN chưa quan
tâm thích đáng đến vấn đề bán phá giá. Tuy nhiên, đối với các vụ
kiện như vụ cá da trơn, vụ tôm, xe đạp, giày có mũ da... th́ mức độ
thiệt hại mới thực sự khiến các doanh nghiệp lao đao. Đơn cử như mặt
hàng xe đạp. Sau 4 năm liền tăng trưởng cao, từ 114 triệu USD (năm
2001) lên 239 triệu USD (năm 2004), nhưng năm 2005 tụt xuống 140
triệu USD, giảm 41,1% so với năm trước do bị ảnh hưởng của vụ kiện
chống bán phá giá tại thị trường EU và bị áp thuế chống bán phá giá
từ 15,8% đến 34,5%. Cũng tại thị trường EU, vụ kiện do EC khởi xướng
đối với giày mũ da của VN và Trung Quốc đă bắt đầu “phát huy tác
dụng” khi nhiều công ty sản xuất giày XK của Việt Nam thiếu đơn hàng
để sản xuất, hoặc sản xuất cầm chừng. Thương vụ VN tại Indonesia cho
biết hiện một số nhăn hiệu hàng đầu như Nike, Reebok và Adidas đă
tăng các đơn đặt hàng từ Indonesia sau khi Liên minh châu Âu (EU) áp
dụng thuế chống bán phá giá và hạn ngạch đối với các sản phẩm giày
dép từ VN và Trung Quốc. Thông tin từ chủ tịch Hiệp hội Da giày
Indonesia mà thương vụ có được, Adidas cũng đă mở hai nhà máy mới
tại Indonesia, đồng thời nhăn hiệu toàn cầu Puma sẽ bắt đầu sản xuất
lại tại Indonesia.
* Chủ động đối phó
Theo Bộ Thương mại, trong quá tŕnh hội nhập kinh tế quốc tế, bị
hoặc chủ động liên quan đến các tranh chấp thương mại là điều b́nh
thường, nên các doanh nghiệp phải có ư thức t́m hiểu và chủ động đối
phó với các vụ kiện. Cục Quản lư cạnh tranh có liệt kê một số nguyên
nhân gây ra các vụ kiện phá giá như: sức ép của tự do hóa thương mại
và t́nh trạng lạm dụng các biện pháp đảm bảo thương mại công bằng để
bảo hộ ngành công nghiệp trong nước; tốc độ tăng trưởng XK cao và
tập trung vào một vài thị trường sẽ dẫn đến nguy cơ bị kiện; phản
ứng dây chuyền: Khi một sản phẩm XK của VN đă bị một nước khởi kiện
bán phá giá th́ rất có thể một đối tác NK khác cũng có thể khởi kiện
tiếp theo (chẳng hạn vụ bật lửa ga)...
Cục Quản lư cạnh tranh cho rằng, để giảm thiểu tối đa tác động tiêu
cực do các vụ kiện này gây ra, chúng ta cần nâng cao hơn nữa nhận
thức của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, các cơ quan
hữu quan về vấn đề này, để chủ động đối phó. Cần xây dựng cơ chế dự
pḥng và cảnh báo sớm thông qua hệ thống mạng lưới cung cấp thông
tin để tiến hành theo dơi, rà soát, đánh giá, dự báo những thay đổi
trong hệ thống pháp luật và thực tiễn, cũng như các động thái về
chống phá giá của các thị trường XK chủ lực...
Cục Quản lư cạnh tranh cũng đặc biệt lưu ư, các doanh nghiệp trong
nước cần tăng cường tinh thần hợp tác, không cạnh tranh với nhau,
tránh tạo điều kiện phát sinh các vụ kiện phá giá từ phía ngành công
nghiệp nội địa của nước nhập khẩu do giá nhập quá thấp.
GIÁP KIỀU HƯNG thực
hiện
Nguồn tin lây từ:
www.baocantho.com.vn
7. Ralph Lauren - "Chịu chơi" để trở thành tỷ phú?
Thế giới thời trang không
chỉ dành cho các nhà thiết kế và tạo mẫu châu Âu. Nếu như nước Pháp
kiêu hănh về một Pierre Cardin, c̣n nước Italia hay nước Đức tự hào
về Giorgio Armanie và Hugo Boss th́ người Mỹ cũng không kém với tên
tuổi của Ralph Lauren.
Ông được coi là một trong những nhà kinh doanh thời trang thành đạt
nhất nước Mỹ hiện nay. Từ hàng chục năm nay thương hiệu thời trang
Polo của Ralph Lauren đă trở thành tiêu biểu cho một phong cách Mỹ.
Và tập đoàn kinh doanh thời trang của Ralph Lauren đang là một trong
những tập đoàn lớn nhất thế giới. Sản phẩm của Polo có mặt tại trên
130 nước trên thế giới và mang về cho ông chủ trên 3 tỉ USD doanh
thu trong năm 2004.
Ralph Lauren sở hữu nhiều thương hiệu thời trang đắt giá. Nói đến
tên ông là người ta nghĩ ngay đến những chiếc áo phông Polo thể thao,
mạnh mẽ mà vẫn rất lịch sự. Đó chính là thế mạnh của các sản phẩm
thời trang Ralph Lauren.
Cái tên Ralph Lauren, cũng có giá trị không kém nhà tạo mẫu thời
trang huyền thoại Pierre Cardin. Người ta vẫn thường thử tính ông sẽ
có bao nhiêu tiền với một danh sách dài các thương hiệu đẳng cấp
quốc tế như Polo Sport, Lauren, RALPH, Ralph Lauren, Polo by Ralph
Lauren, Polo Jeans Co. hay Ralph Lauren Purple Label.
Từ cậu bé ưa ăn diện...
Ralph Lauren sinh năm 1939 tại New York trong một gia đ́nh không
giàu có nhưng lại có gen nghệ thuật. Ông là con trai út trong số 4
người con của một hoạ sĩ tương đối nổi tiếng. Khá nhiều người đă
biết đến cha của Ralph Lauren khi ông này là hoạ sĩ chuyên vẽ các
bức tranh lớn trang trí trên nhnữg bức tường lớn.
Ngay từ bé, Ralph Lauren đă được hít thở trong một không gian nghệ
thuật với một môi trường đầy màu sắc. Có lẽ v́ thế mà dường như
trong con người của Ralph Lauren đă có sẵn cái gen nghệ thuật. Ông
có thể say sưa và có cảm nhận rất nhanh, rất nhạy với màu sắc, với
thời trang.
Ngay từ khi c̣n rất nhỏ, Ralph Lauren đă khác biệt với trẻ cùng lứa
bởi sự nhạy cảm màu sắc và nghệ thuật đó. Ralph Lauren luôn tỏ ra là
một cậu bé sành điệu, thích ăn diện và rất biết ăn diện. Ở trường
học cũng như khi ra đường người ta cũng luôn dễ nhận thấy điều đó
bởi phong cách ăn mặc rất mốt và rất chịu chơi của cậu bé Ralph.
Chuyện kể rằng khi mới chỉ là cậu học sinh trung học, Ralph Lauren
đă rất thích được “thắng” những bộ complet đắt tiền. Và Ralph Lauren
đă giấu bố mẹ để làm kỳ được theo ư thích của ḿnh. Bao nhiêu tiền
ăn sáng, tiền tiêu vặt tiết kiệm được, Ralph Lauren bỏ hết ra để sắm
một bộ complet “tuyệt đỉnh” lúc đó với giá trên 100 USD. Đây là món
tiền rất lớn vào thời điểm những năm 50 của thế kỷ 20 và lại càng
lớn với một thanh niên mới lớn, con nhà không lấy ǵ làm khá giả như
Ralph Lauren. Sau “vụ” này, bố mẹ của Ralph rất bực ḿnh và giận dữ
về cậu con trai út ăn chơi sành điệu và rất bướng bỉnh.
Tưởng rằng Ralph Lauren sẽ theo học tại một trường đào tạo về thời
trang nào đó th́ ông đă gây sốc cho cả gia đ́nh, đột nhiên đ̣i theo
học ngành thương mại. Ngay cả trong những quyết định quan trọng cả
một đời người như vậy, Ralph Lauren đă tỏ ra quyết đoán. Ông đă học
trường quản trị kinh doanh tại khu phố Manhattan nổi tiếng.
... thành nhà kinh doanh thời trang
Sau khi tốt nghiệp trường kinh doanh, Ralph Lauren xin vào làm chân
bán hàng cho một công ty chuyên sản xuất găng tay. Công việc của
Ralph Lauren là chuyên đi tiếp thị, t́m khách và bán hàng. Những
kinh nghiệm thị trường và cả những mưu mẹo kinh doanh Ralph Lauren
đă có từ đây. Trước sau, Ralph Lauren vẫn là một anh chàng rất thích
diện. Người ta thường thấy anh bán hàng Ralph Lauren luôn nổi bật
đầy kiêu hănh với những bộ cánh mốt nhất.
Sau một thời gian, Ralph Lauren chuyển sang làm cho hăng Rivetz
chuyên sản xuất caravat. Ralph Lauren lại càng có điều kiện hơn t́m
hiểu các nhu cầu thời trang nam mà chính ông là một khách hàng
thường xuyên. Khi trực tiếp phải gặp những ông khách khó tính cùng
với nhu cầu của chính bản thân, Ralph Lauren đă tự ḿnh thiết kế
caravat.
Là người kinh doanh nhưng Ralph Lauren vẫn không hề mất đi phong
cách và cái máu nghệ sĩ trong ḿnh. Ông say sưa làm sang cho ḿnh và
giới mày râu bởi những caravat kiểu cách và ấn tượng. Ralph Lauren
khi đó đă là chủ sở hữu của vô số mẫu mă caravat khác nhau nhưng
không để triển lăm mà để kinh doanh kiếm tiền.
Ralph Lauren đột ngột xin thôi việc tại công ty Rivetz để tự kinh
doanh. Năm 1968, Ralph Lauren thành lập công ty thời trang Polo
Fashion. Không có đủ số tiền 50.000 USD để khởi nghiệp nên Ralph
Lauren đă cần có sự tham gia góp vốn của một người anh trai.
Và đương nhiên, sản phẩm đầu tiên mà ông kinh doanh chính là những
chiếc caravat “cây nhà lá vườn” được thiết kế nhiều màu sắc, đầy
chất ngẫu hứng mà vẫn sang trọng.
Tạo dựng thương hiệu Polo
Ngay từ khi khởi nghiệp kinh doanh chỉ với mỗi một mặt hàng caravat,
Ralph Lauren đă xác định đúng đối tượng khách hàng của ḿnh. Đó là
những người có thu nhập khá trở lên và có một phong cách sống, thị
hiếu mang tính thể thao.
Cái tên Polo không phải là t́nh cờ mà cả một sự nghiên cứu chọn lựa
nghiêm túc của Ralph Lauren. Ông quyết tâm xây dựng một thương hiệu
riêng cho ḿnh. Polo chính là tên của một trong những môn đua ngựa
được ưa chuộng. Đua ngựa rơ ràng là một môn thể thao thường chỉ cho
giới quí tộc. Và v́ thế cái tên Polo sẽ vừa đem lại cảm giác mạnh mẽ,
trẻ trung của thể thao lại vừa mang bóng dáng sang trọng của giới
quí tộc, thượng lưu. Đấy là mong ước và cũng là mục tiêu mà Ralph
Lauren quyết tâm đạt được với thương hiệu Polo của ḿnh.
Sản phẩm caravat Polo của Ralph Lauren được khá nhiều người ưa thích.
Thế nhưng ông chỉ bán được trực tiếp mà không tiếp cận được với các
hệ thống cửa hiệu thời trang. Các cửa hàng thời trang nhỏ gần như cự
tuyệt hoàn toàn với một thương hiệu c̣n vô danh như Polo.
Không chán nản, Ralph Lauren t́m đến các trung tâm thương mại lớn.
Đặc biệt nhất là ông c̣n dám liều lĩnh đến đặt vấn đề tiêu thụ
caravat của ḿnh tại trung tâm thương mại thời trang Blomigdale’s
nổi tiếng lừng danh ở New York.
Ralph Lauren đă bị coi là người bảo thủ và cứng rắn cả trong nghệ
thuật thiết kế lẫn trong kinh doanh. Các trung tâm thương mại đều ra
điều kiện nhập hàng của Ralph Lauren là sửa lại mẫu caravat cho nhỏ
lại và phải bỏ mác Polo để thay vào đó một thương hiệu khác có sẵn.
Cả hai đ̣i hỏi đó đều bị Ralph Lauren khăng khăng cự tuyệt. Ông tin
tưởng vào sự độc đáo của các sản phẩm do ḿnh thiết kế và quyết tâm
xây dựng một thương hiệu riêng bắt đầu từ con số không.
Và rồi cuối cùng Blomigdale’s đă nhận bán hàng của Ralph Lauren mà
không đ̣i các điều kiện như trước nữa. Cái tên Polo đă được chấp
nhận là một thương hiệu khi được đứng chung cùng với các tên tuổi
khác trong một trung tâm thương mại cao cấp.
Sau này nh́n lại cả quá tŕnh phát triển của ḿnh, Ralph Lauren cũng
đă thừa nhận thành công của ḿnh thật sự bắt đầu từ khi Blomigdale’s
chấp nhận bán hàng mang tên Polo. Trải qua hơn ba mươi năm, Polo đă
trở thành một thương hiệu đẳng cấp quốc tế, không chỉ cho caravat mà
c̣n cho tất cả các mặt hàng thời trang, đặc biệt là thời trang nam.
Đem lại một phong cách sống
Sự đón nhận nồng nhiệt của khách hàng với các sản phẩm thời trang
độc đáo đă khiến Ralph Lauren nghĩ ngay đến việc mở rộng kinh doanh.
Năm 1971, người ta lần đầu tiên thấy xuất hiện các cửa hàng thời
trang Polo của Ralph Lauren.
Và gu thẩm mỹ thời trang mạnh mẽ, trẻ trung mà vẫn sang trọng của
Ralph Lauren đă chinh phục được đa số khách hàng tầm trung lưu trở
lên. Số lượng cửa hàng Polo cứ tăng dần lên. Và số sản phẩm của ông
cũng tăng rất nhanh. Cứ đến mỗi mùa là Ralph Lauren lại có ngay
những bộ sưu tập thời trang mới rất hấp dẫn người tiêu dùng.
Ralph Lauren không chỉ tập trung vào sở trường chính là thời trang
nam mà c̣n mở rộng sang cả thời trang nữ. Và ông đă sớm thành công
ngay với những bộ sưu tập thời trang mang đậm phong cách thể thao mà
vẫn rất lịch sự dành cho phái đẹp.
Lúc này thương hiệu Polo đă bắt đầu trở nên nổi danh. Ralph Lauren
thành công với các sản phẩm của ḿnh không phải đơn thuần là đẹp hay
là giá rẻ. Triết lí kinh doanh thời trang của ông rất rơ ràng và độc
đáo. Ralph Lauren đă từng tự hào quảng bá “tôi không thiết kế quần
áo mà thể hiện những giấc mơ thông qua quần áo”. Các hoạt động PR,
quảng cáo đều thể hiện quan điểm kinh doanh của Ralph Lauren là
không phải bán hàng đơn thuần mà đem lại một phong cách sống cho
người mua sản phẩm.
Chính v́ vậy mà Ralph Lauren đă bán được hàng với giá không hề rẻ
chút nào. Những người mặc đồ của Ralph Lauren đều muốn chứng tỏ rằng
ḿnh thuộc tầng lớp khá giả, vừa sang trọng lịch sự kiểu truyền
thống nhưng lại vẫn có nét mạnh mẽ, trẻ trung của thể thao.
Dày công xây dựng thương hiệu Polo rất thành công, Ralph Lauren cũng
nghĩ ngay việc khai thác thương hiệu này một cách triệt để nhất,
hiệu quả nhất. Và rất nhiều sản phẩm cá nhân, đồ trang sức cá nhân
như đồng hồ bút viết, cặp sách hay mỹ phẩm đồ dùng trong nhà như đồ
gỗ, đồ trang trí, đồ dùng thể thao cũng được mang tên thương hiệu
Polo.
Thậm chí từ nhiều năm nay người ta c̣n có thể đặt hàng toàn bộ nội
thất của một căn hộ, một nhà nghỉ theo mẫu thiết kế của Ralph
Lauren. Một chiếc xe ô tô Camping dùng làm nhà nghỉ di động có thể
mang thương hiệu Polo có giá tới hàng trăm ngh́n USD.
Năm 1997, công ty thời trang của Ralph Lauren được niêm yết trên thị
trường chứng khoán và đă được định giá gần 1 tỉ USD. Sự thành công
của thương hiệu Polo và các thương hiệu khác của Ralph Lauren đă làm
cho tài sản của ông chủ tăng liên tục.
Ralph Lauren đầu tư khá nhiều vào bất động sản với nhiều toà nhà cao
cấp tại New York và cả ở Jamaica. Ngoài ra, người ta c̣n biết đến
nhà thiết kế tài năng và giàu có Ralph Lauren c̣n có một thú chơi
tốn tiền là sưu tầm ôtô và đồng hồ cổ.
Hà Linh
thực hiện
Nguồn tin lấy từ: www.vtv.vn
8. Người quê đi làm thương hiệu
Mắm Đức Lợi từ lâu nổi tiếng ở Quảng Ngăi cùng các tỉnh
lân cận và làng mắm Đức Lợi trở thành làng nghề truyền thống của
tỉnh. Nhưng rồi, làn sóng thị trường làm cho mắm Đức Lợi chao đảo.
Người quê chợt giật ḿnh và cuộc đi t́m thương hiệu cho làng bắt đầu
từ đó…
• Con đường của thương hiệu
Ông Vơ Ngọc Minh, 86 tuổi, xă Đức Lợi, huyện Mộ Đức, kể: “Cái hồi
tôi c̣n vọc đất đă được chứng kiến sự hưng thịnh nghề chế biến mắm ở
làng. Ngày mùa, bến cửa Lở tấp nập cảnh trên bến dưới thuyền mua bán
cá cơm”.
Nhiều hộ c̣n dùng xe thồ theo bộ hoặc dùng thuyền theo đường biển
tận cửa biển Sa Kỳ (huyện Sơn Tịnh), Sa Cần (huyện B́nh Sơn) hoặc
vào cửa Sa Huỳnh (huyện Đức Phổ) mua cá chở về muối mắm.
Nhà ông Minh mỗi năm muối đến 500-700 thùng tô nô (tính ra khoảng từ
15-21 tấn cá). Nghề chế biến nước mắm đă giúp ông nuôi cả một gia
đ́nh 10 đứa con. Nhiều như nhà ông Nguyễn Nh́ mỗi năm muối từ
1.000-1.500 thùng tônô (khoảng từ 21-45 tấn cá)…
Những con cá cơm tươi rói, phơi bụng trắng tinh được đem trộn với
muối biển Sa Huỳnh, sau đó đổ vào thùng tônô làm bằng gỗ mít rồi
dùng vỉ tre chèn xuống để muối cả năm trời thành mắm. Nước đầu gọi
là nước nhĩ. Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, quy tŕnh
sản xuất được dân làng cải tiến bằng cách muối cá trong thùng tônô
có đắp lù (đường dẫn mắm nước ra ngoài).
Do phải muối cả năm mới thành mắm nên người quê vừa bán mắm đồng
thời vừa muối cá. Họ nói nhiều về mắm tháng 3, bởi lúc này ḷng biển
khá sạch, con cá cơm đánh bắt được bụng cũng trắng nên mắm có màu đỏ
tươi sóng sánh, thơm lừng.
Nước mắm ở Đức Lợi từ lâu “thống soái” thị trường Quảng Ngăi và một
số huyện lân cận của Quảng Nam, B́nh Định. Thế mà cách đây chừng 7
năm, các mối hàng ở Quảng Ngăi, Quảng Nam đồng loạt lắc đầu.
Chị Bùi Thị Út, chủ thương hiệu mắm Hồng Út kể: “Thấy cơ sự làm ăn
bên bờ vực thẳm, vợ chồng bàn tính: Bỏ nghề lấy ǵ sống, mà nếu bỏ
là mất luôn cái nghiệp của cha ông”. Chị lấy xe đạp đi lại mối bán
hàng cũ, rồi dạo vô khách sạn, nhà hàng.
Đến khi trở về nhà mang cả giỏ mắm của các thương hiệu mắm Phan
Thiết và Phú Quốc, rồi nói với chồng: “Mắm Đức Lợi quê ḿnh ngon th́
ngon thật, nhưng vẫn kém thơm. Đă vậy, ḿnh bỏ mắm trong can nhựa
làm nhiều chủ quán ngại sang qua, sớt lại dơ tay và chuyển đi nơi xa
rất bất tiện”. Chị quyết định cải tiến bằng cách mua chai nhựa, đong
nước mắm vào. Mặt khác, để mắm có hương thơm, chị quyết định phân
tầng giữa muối và cá trong thùng tônô…
Sau nhiều lần cải tiến, mắm của chị Út, của anh Hiền tiêu thụ vẫn cứ
chậm. Thấy vậy, chị Út lại cắp nón đến những đại lư mắm ở Quảng Ngăi,
xem những chai mắm của các nơi chuyển về bày bán. Chuyến đi thứ hai
này, chị vỡ lẽ: có cái chai mắm bằng nhựa chưa đủ, bởi thiếu cái
nhăn hiệu nên có người không tin là mắm thứ thiệt của Đức Lợi, thậm
chí c̣n bị nơi khác lợi dụng mua mắm của Đức Lợi về pha chế thêm nên
mắm không c̣n thơm ngon…
Năm 1999, thương hiệu mắm Bảy Hiền, mắm Hồng Út, Hồng Ngoan lần lượt
ra đời… Chị Bùi Thị Út kể: “Tôi lên xă xin thương hiệu. Chủ tịch xă
nghe tŕnh bày bị hấp dẫn liền, nhưng ông lắc đầu: Chuyện này chưa
có tiền lệ nên tao hổng biết. Mày chịu khó viết cái giấy tao kư vào
rồi lên pḥng công thương của huyện tŕnh bày th́ người ta bày mối
cho”.
Người quê, vốn xa lạ với giấy tờ, nhưng đă quyết định như vậy nên
chị dặn ḷng phải cố gắng. Lên huyện, rồi Chi cục đo lường chất
lượng, ḷng cứ phập phồng đến nỗi dự định đặt tên thương hiệu chị
cũng quên. Nhiều cán bộ ở Chi cục đo lường gợi ư, chị ghép tên vợ
chồng lại thành thương hiệu cho nước mắm của ḿnh.
Chị Trần Thị Kiều, chủ cơ sở nước mắm Xuân Lan, kể: “Thấy bà con có
thương hiệu làm ăn dễ dàng hơn, số lượng mắm nhà ḿnh làm ra ít
nhưng để bán được cũng cần có thương hiệu. Thế nên, tôi đem bàn với
các chủ ḷ mắm khác là chị Nguyễn Thị Ánh, Nguyễn Thị Phương, Đinh
Thị Hường và Trần Thị Diễn.
Cả năm chị em cùng thống nhất phải đăng kư thương hiệu, nhưng để năm
cái tên vào đó ai chấp nhận? Cuối cùng 5 chị em cùng quyết chọn tên
con gái đầu của chị Diễn là Xuân Lan làm tên thương hiệu”. Có thương
hiệu rồi, họ làm thêm cái giấy cam kết với nhau là phải đảm bảo chất
lượng hàng hóa chứ đừng để xấu cái thương hiệu của ḿnh.
Vừa làm mắm vừa xây dựng thương hiệu, bây giờ ở xă Đức Lợi đă có 22
thương hiệu. Những thương hiệu Bảy Hiền, Hồng Út, Hồng Ngoan, Xuân
Lan, Hùng Dũng trở thành thân quen ở thị trường Quảng Ngăi.
• Tiếp thị thương hiệu
Có thương hiệu là mừng, nhưng để thương hiệu nằm ḷng trong người
tiêu dùng, nhất là các nhà hàng, khách sạn lớn ở Quảng Ngăi mua dùng
là chuyện không đơn giản. Anh Đinh Văn Hồng, kể: “Có thương hiệu rồi
gia đ́nh phải mua chai lọ, thùng cattông đựng mắm, rồi mắc điện
thoại để tiện liên lạc. Nhưng đó, cũng chỉ là phần “hậu” c̣n cái
chính vẫn là khâu chất lượng và tiếp thị”.
Chị Bùi Thị Hồng, chủ thương hiệu mắm Hồng Ngoan kể: “Tui đèo xe máy,
chở mắm đến nhà hàng nằn nỉ xin lấy cho vài chai. Họ cười bảo, ở đây
chỉ xài mắm Phú Quốc, mắm Phan Thiết thôi. Tui hỏi, hóa ra giá ḿnh
chào “mềm” hơn là một lợi thế. Tui lấy chai mắm mời họ nếm thử. Nếm
rồi, tui hỏi địa điểm của bếp và mang cả chục chai thẳng xuống cho
họ...”.
Ra khỏi nhà họ, chị nhẩm tính lợi chưa thấy nhưng mất đi mấy lít mắm.
Tiếc mắm, tiếc luôn cả công vợ chồng thức khuya dậy sớm đong mắm vô
chai. C̣n lên các thị trấn miền núi, những hiệu bán buôn xưa nay
quen nhận can nhựa mắm, nay thấy mắm có nhăn mác, có số điện thoại,
nơi sản xuất, địa chỉ liên lạc cũng thích lắm nhưng ngại thêm tiền.
Biết vậy nên chị lựa lời: “Bà con dùng mắm bây giờ ngon hơn, tiện
lợi hơn th́ cũng vui ḷng cho xin thêm ít tiền mua cái vỏ chai”.
Người quê đi tiếp thị bắt đầu là những nơi đă mua bán cũ rồi những
cửa hiệu bán buôn mới. Họ càng đi, càng hiểu rơ lời dạy của ông, cha
phải biết “bỏ con săn sắt, bắt con cá rô”.
Tiếp thị kiểu quê như vậy, nhưng kiên tŕ rồi cũng thành. Hôm đầu
tiên nghe đầu dây điện thoại bên kia nói mang cho vài chục thùng mắm,
vợ chồng chị Hồng mừng quưnh quáng…
Thế rồi, mắm Đức Lợi được đựng trong chai nhựa có h́nh con cá cơm
bơi, có địa chỉ, hàm lượng đạm, ngày sản xuất, đăng kư chất lượng rơ
ràng dần dần lấy lại vị thế trong ḷng người tiêu dùng. Chị Bùi Thị
Út kể: “So với hồi chưa có thương hiệu, bây giờ, chuyện làm ăn tăng
lên gấp chục lần.
Ngoài việc thu mua cá ở Đức Lợi, chị c̣n mở các điểm thu mua ở Sơn
Tịnh, B́nh Sơn và Đức Phổ. Lắm khi ở biển Quảng Ngăi khan cá, vợ
chồng chị điện thoại vào các đại lư thu mua ở Phan Thiết đặt họ thu
mua và muối sơ qua theo quy tŕnh của chị, rồi sau đó chị thuê xe
chở cá về. Không chỉ dừng lại ở thị trường trong tỉnh, mắm Hồng Út
c̣n “mang chuông đi đánh xứ người” với những đại lư ở Huế, Vũng Tàu.
Phó Chủ tịch UBND xă Đức Lợi Cao Văn Minh cho hay: Để tạo điều kiện
cho dân làng làm ăn và đưa thương hiệu mắm của Đức Lợi đi xa, địa
phương đă quy hoạch 2 ha để các hộ dân lập điểm chế biến. Kế hoạch
này đă được huyện tŕnh tỉnh phê duyệt.
Nguồn
tin lấy từ: www.hanoimoi.com
|