|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 23
(Tuần từ
2/1/2006-8/1/2006)
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng
kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
1. Nhượng quyền trong lĩnh vực kế toán, thuế: Quốc tế hoá chất lượng
dịch vụ
Franchise (nhượng quyền) tuy đă ra đời và phát triển mạnh tại các
nước phát triển trong ṿng 150 năm qua nhưng phương thức kinh doanh
này mới chỉ thâm nhập VN trong khoảng 15 năm trở lại đây. Trên thực
tế, hoạt động Franchise ngày càng diễn ra mạnh mẽ với nhiều cách thể
hiện không chính thức như: các cơ sở bảo dưỡng ôtô, xe gắn máy do
Honda, Suzuki, Yamaha... ủy quyền; các cơ sở đào tạo tin học, công
nghệ thông tin được cấp bằng quốc tế như Oracle, Aptech... tại VN.
Tuy vậy, mới đây
Chính phủ đă ban hành Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 quy
định chi tiết về chuyển giao công nghệ. Trong đó, có đề cập đến
hoạtđộng "cấp phép đặc quyền kinh doanh, theo đó bên nhận sử dụng
tên thương mại, nhăn hiệu hàng hóa và bí quyết của bên giao để tiến
hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ thương mại. Thời
hạn hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh do hai bên thỏa thuận
theo quy định của pháp luật" là một trong những nội dung chuyển giao
công nghệ.
Pháp
luật về nhượng quyền
Như vậy, theo quy
định đầu tiên và hiện hành của pháp luật Việt Nam th́ hoạt động
Franchise được gọi chính thức là cấp phép đặc quyền kinh doanh thuộc
hoạt động chuyển giao công nghệ có đối tượng sở hữu công nghiệp nên
có người gọi đây là nhượng quyền thương hiệu. Cũng theo quy định
hiện hành, hoạt động nhượng quyền này vừa phải đăng kư Hợp đồng
chuyển giao công nghệ ; Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử
dụng; các đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định pháp luật về sở
hữu công nghiệpmà cả 2 loại hợp đồng này đều do cơ quan thuộc Bộ
Khoa học - Công nghệ quản lư.
Thực tiễn ở VN cho thấy, bên nhượng quyền và bên nhận quyền
đều có lợi nhưng làm thế nào để bên nhượng quyền kiểm soát các hoạt
động của bên nhận quyền sao cho đúng như cam kết, nhằm bảo vệ thương
hiệu là một bài toán khó. Chẳng hạn, Cty Cà phê Trung Nguyên cho
biếtsẽ phải tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa phương thức nhượng quyền
thương hiệu của ḿnh nhằm thiết lập những cam kết thật chặt chẽ giữa
hai bên mà hiện nay c̣n gặp nhiều rắc rối, nhất là về các ràng buộc
pháp lư.
Mới đây, Quốc hội đă
thông qua Luật Thương mại (năm 2005), trong đó đă xác định rơ,
Franchise là nhượng quyền thương mại, là hoạt động thương mại (không
phải là chuyển giao công nghệ như quy định hiện hành, điều này phù
hợp với tập quán thương mại thế giới). Theo đó, bên nhượng quyền cho
phép và yêu cầu bên nhận quyền tự ḿnh mua bán, cung ứng dịch vụ
theo các điều kiện:
* Theo cách thức tổ
chức kinh doanh do Bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhăn
hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền.
* Bên nhượng quyền
có quyền kiểm soát và trợ giúp cho Bên nhận quyền trong việc điều
hành công việc kinh doanh.
Như vậy, theo Luật
Thương mại (2005) có hiệu lực từ 01/01/2006 th́ trước khi nhượng
quyền thương mại, Bên dự kiến nhượng quyền phải đăng kư với Bộ
Thương mại. Điều này nghĩa là, việc đăng kư hợp đồng nhượng quyền
thương mại sẽ về đúng nơi, phù hợp với bản chất của nó là Bộ Thương
mại thay cho việc đăng kư tại Cục Sở hữu Trí tuệ trước đây, c̣n việc
sử dụng license về nhăn hiệu hàng hóa cũng không c̣n bắt buộc phải
đăng kư hợp đồng license như quy định hiện hành mà là tự nguyện của
hai bên (vấn đề này sẽ càng được làm rơ hơn trong Luật Sở hữu trí
tuệ mà Quốc hội sắp ban hành).
Franchise trong lĩnh vực kế toán, thuế
Khi tham dự Hội chợ
quốc tế (International Franchise Expo) lần thứ 14 tại Washington vào
tháng 4/2005 do Thương vụ của Đại sứ quán Mỹ tại VN tổ chức, điều
gây ngạc nhiên là danh mục sản phẩm đưa ra nhượng quyền đầu tiên là
dịch vụ kế toán/thuế chứ không phải là hàng hóa tiêu dùng.
Bởi theo Ban Tổ chức
hội chợ, việc khai thuế, làm kế toán liên quan đến mọi người dân,
không chừa một ai (họ áp dụng thuế thu nhập dân cư từ lâu chứ không
chỉ áp dụng thuế thu nhập cá nhân của người có thu nhập cao như ở VN).
Tuy nhiên, khi đặt vấn đề tại sao không Franchise đối với dịch vụ
kiểm toán th́ ông Marcel R. Portmann - Phó Chủ tịch Hiệp hội
Franchise quốc tế (IFA) khẳng định: dịch vụ kiểm toán chịu trách
nhiệm độc lập, trực tiếp của cá nhân hành nghề nên không thể nhượng
quyền cho người khác được.
Tuy nhiên, ở VN,
việc nhượng quyền thương mại đối với dịch vụ kế toán (bao gồm dịch
vụ kê khai thuế) là điều chưa từng biết đến. Cho đến nay, pháp luật
hiện hành của VN chỉ mới đề cập đến DN kiểm toán được tham gia làm
thành viên (member) của một tổ chức kế toán, kiểm toán quốc tế và
sau khi kết nạp th́ thực hiện kiểm toán dưới tên của tổ chức nước
ngoài và tên của ḿnh theo quy định của Nghị định số 105/2004/NĐ-CP
về kiểm toán độc lập. Việc sử dụng nhăn hiệu hàng hóa của tổ chức
nước ngoài mà ḿnh là thành viên th́ nhăn này là nhăn hiệu tập thể
(Collective mark). Mặt khác, việc cung cấp dịch vụ vừa gắn nhăn hiệu
của tổ chức nước ngoài, vừa gắn nhăn hiệu của ḿnh thực chất đây
chính là một phần của Franchise. Việc trả phí thành viên tùy theo
quy chế thành viên của mỗi tổ chức nước ngoài, chẳng hạn một DN kiểm
toán hiện nay phải trả phí tham gia thành viên là 13% doanh thu
trong 3 năm đầu. Trong khi đó, phí nhượng quyền cũng không chênh
lệch nhiều, chẳng hạn Cty Liberty Tax Service ở Mỹ chào bán việc
nhượng quyền dịch vụ kế toán/thuế với phí bản quyền là 9% trên doanh
thu dịch vụ và đồng thời là phí quảng cáo 5% cũng trên doanh thu.
Tuy vậy, khi VN gia
nhập WTO th́ phương thức kinh doanh nhượng quyền thương mại trong
lĩnh vực kế toán cũng cần thiết bổ sung cho phù hợp với thông lệ
quốc tế. V́ suy cho cùng Franchise cũng là một phương thức quốc tế
hóa chất lượng dịch vụ kế toán.
Luật gia Phạm Thế Vinh thực hiện
Nguồn tin lấy từ: www.top.aspx
2. Nhượng quyền kinh
doanh
Nhượng quyền
kinh doanh
- phương thức kinh doanh được đánh giá là một trong những thành tựu
lớn nhất của các nước phương Tây trong lĩnh vực thương mại đang thâm
nhập vào Việt Nam trong quá tŕnh Việt Nam mở cửa thị trường và hội nhập
hơn vào nền kinh tế thế giới.
Mặc dù được coi là mới du nhập vào Việt Nam, song điều đáng
ngạc nhiên là phương thức này đă có mặt và được áp dụng tại 70 hệ
thống kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau, với hệ thống mạng lưới
các cửa hàng hoạt động hết sức có hiệu quả trên khắp Việt Nam. Đó là
kết quả của một nghiên cứu mới đây do Hệ thống Nhượng quyền thương
mại thế giới thực hiện đă được Giáo sư Andrew Terry, Hiệu trưởng
Trường Luật kinh doanh và Thuế thuộc Trường đại học New South Wales
(Australia) công bố tại Hội thảo Nhượng quyền thương mại do Bộ
Thương mại vừa tổ chức tại Hà Nội. Ông Terry đưa ra con số đó để
chứng minh cho luận điểm của ḿnh rằng, cũng như các nước đang phát
triển khác, Việt Nam hoàn toàn có thể đưa vào áp dụng một cách hữu
hiệu phát kiến này như là một quy luật tự nhiên của quá tŕnh mở cửa
và đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường, cũng như có thể phát
triển nó một cách bài bản và đúng hướng để phục vụ mục đích tăng
trưởng kinh tế và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động thương mại trong
tương lai.
H́nh thức kinh doanh của Cà phê Trung Nguyên và Công ty Bánh
ngọt Kinh Đô được ông Terry đánh giá là ví dụ điển h́nh cho việc áp
dụng khá thành công phương thức nhượng quyền kinh doanh tại Việt Nam
hiện nay. Theo ông, đây có thể coi là mô h́nh thu nhỏ của tập đoàn
kinh doanh đồ ăn nhanh nổi tiếng của Mỹ là McDonald, với đúng h́nh
thức là nhân bản các cửa hàng bán hàng theo nguyên mẫu có sẵn thông
qua việc nhượng quyền kinh doanh của công ty (có thể tạm gọi là "công
ty mẹ") cho các cửa hàng ở cấp thấp hơn tại các khu vực địa lư khác
nhau (là bên nhận quyền kinh doanh) để tạo thành một chuỗi phân phối.
Trong đó, bên nhượng quyền kinh doanh có thể nhượng quyền phân phối
các sản phẩm hoặc ở cấp cao hơn là nhượng quyền thương mại đối với
phương thức kinh doanh, c̣n bên nhận quyền (các cửa hàng, nhà phân
phối, hoặc nhà sản xuất) được độc quyền sử dụng nhăn hiệu sản phẩm,
hệ thống và phương pháp hoạt động kinh doanh của bên nhượng quyền.
Bên nhượng quyền sẽ cung cấp thường xuyên cơ sở hạ tầng, phương thức
kinh doanh, mô h́nh trưng bày sản phẩm, cách thức sản xuất và chế
biến sản phẩm và thậm chí là cả các h́nh thức đào tạo để nâng cao
hiệu quả kinh doanh. Đổi lại, bên nhận quyền sẽ đóng góp cho bên
nhượng quyền các khoản phí định kỳ cùng một tỷ lệ phần trăm nhất
định từ doanh thu của ḿnh theo thỏa thuận giữa hai bên. Theo ông
Terry, bằng cách liên kết như vậy, cả bên nhượng và bên nhận quyền
kinh doanh đều có lợi và quan trọng hơn nữa là có thể cùng hợp sức
cạnh tranh với các công ty lớn trong cùng lĩnh vực hoạt động. Do đó,
h́nh thức này rất phù hợp với Việt Nam cũng như các nước đang phát
triển nói chung, vốn là những quốc gia đang rất cần tập hợp nguồn
lực từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ để nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế trong quá tŕnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, một điều
đáng quan tâm là, cũng như tất cả các phương thức kinh doanh khác
đang hiện hữu trong nền kinh tế, nhượng quyền kinh doanh cũng có thể
phát sinh những tác động tiêu cực tới môi trường kinh doanh nếu như
nó được phát triển một cách tự do, thiếu kiểm soát và nhất là thiếu
sự giám sát, quản lư từ phía Nhà nước. Chính v́ lư do đó, ông Terry
cũng như các chuyên gia thương mại Việt Nam đều đồng t́nh với quan
điểm cho rằng, đă đến lúc cần xây dựng một khung pháp lư để điều
chỉnh hoạt động này.
Theo ông Trương
Quang Hoài Nam, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Thương mại), Ban soạn thảo
Luật Thương mại sửa đổi đă và đang triển khai xây dựng một số chế
định pháp lư liên quan đến phương thức kinh doanh này và đưa vào
thành một chương trong Luật Thương mại sửa đổi. Nếu như được Quốc
hội thông qua, đây sẽ là khuôn khổ pháp lư chính thức điều chỉnh và
quy định các hoạt động cụ thể trong phương thức nhượng quyền kinh
doanh tại Việt Nam trong thời gian tới.
Nguồn tin lấy từ:
www.vtv.vn
3. Nhượng quyền thương hiệu ra nước ngoài: Cái khó bó cái
khôn
Nhượng quyền
thương hiệu (franchise) là một phương thức kinh doanh phổ biến trên
thế giới và cũng không quá mới đối với VN. Những năm qua, đă có một
vài thương hiệu mạnh của VN tham gia thị trường này như Trung Nguyên,
Kinh Đô, Phở 24 Thế nhưng theo nhiều
chuyên gia, tiềm năng của franchise chưa được các DN VN khai thác một
cách hiệu quả
Ông Miguel Pardo
de Zenla - Tham tán Thương mại Đại sứ quán Mỹ tại VN cho biết: Giá
trị đích thực của franchise là ít rủi ro và chi phí thấp.
Hiện nay, nhiều DN
VN đă nhanh chóng áp dụngmà tiên phong là hăng cà phê Trung Nguyên.
Ông Đặng Lê Nguyên Vũ -Giám đốc Trung Nguyên - cho biết: năm 2001
chúng tôi bỏ ra khoảng 3 triệu USD để thuê tư vấn nước ngoài cho
công tác franchise. Đến thời điểm này, tại VN Trung Nguyên có một hệ
thống phân phối dày đặc (khoảng hơn 1.000 quán) trải dài từ Bắc vào
Nam. Ở thị trường nước ngoài, Trung Nguyên đă nhượng quyền ở Nhật
Bản, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc... đặc biệt các nước
Australia, Mỹ, Pháp, Canada... cũng có quán Trung Nguyên. Tại VN
hiện nay c̣n có hơn 70 hợp đồng nhượng quyền thương hiệu từ các tập
đoàn lớn của thế giới (KFC, McDonal...) và các DN lớn của Việt Nam
như Kinh Đô, Đức Phát...
Khó do pháp luật chưa đầy đủ
Ông Lê Phụng Hào Phó
TGĐ Cty Kinh Đô cho biết: franchise ra nước ngoài khó khăn nhiều hơn
so với trong nước. Đó là thị hiếu tiêu dùng có nhiều khác biệt nên
làm sao để giữ được bản sắc riêng của DN nhưng vẫn phù hợp với thị
hiếu, văn hoá, tranh thủ thiện cảm và có sự chấp nhận của người tiêu
dùng nước sở tại. Thêm nữa, chi nhánh được franchise làm sao hoạt
động tốt và mang đến sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tương đương
với chi nhánh chính thức của DN th́ mới đảm bảo được uy tín và sự
bền vững trong hoạt động. Chính v́ vậy vấn đề huấn luyện, chuyển
giao kinh nghiệm và phải thường xuyên đáp ứng các nhu cầu khác cho
chi nhánh nhượng quyền hoạt động tốt là một vấn đề phức tạp. Thực
hiện điều này ngay ở trong nước c̣n gặp rất nhiều khó khăn th́ những
chi nhánh nhượng quyền ở nước ngoài c̣n khó khăn gấp nhiều lần.
“Những quy định của pháp luật nước sở tại là rất kỹ, DN VN c̣n lơ
ngơ về vấn đề này nên gặp nhiều khó khăn...” - ông Hào cho biết.
Thêm một cái nền không vững chắc nữa mà các DN không dám nhượng
quyền ồ ạt, đó chính là nền tảng pháp luật về nhượng quyền của VN
chưa thật vững chắc nên dễ phát sinh các tranh chấp về ăn chia, về ư
tưởng... Thực tế Bộ Luật Thương mại chỉ có 1 mục nói về nhượng quyền
thương hiệu một cách tóm tắt và chưa đầy đủ. Mặt khác, Luật Thương
mại có ghi: nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại theo đó
bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự ḿnh mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo điều kiện. Trước khi bắt đầu nhượng
quyền, bên dự kiến nhượng quyền phải đăng kư với Bộ Thương mại. Thế
nhưng Nghị định 11/2005/NĐ - CP của Chính phủ có những quy định về
chuyển giao công nghệ, thương hiệu từ nước ngoài vào Việt Nam. Theo
đó, Bộ KH-CN và các sở KHCN có trách nhiệm xác nhận đăng kư chuyển
giao công nghệ, thương hiệu. Tại thời điểm này chưa có DN nào vướng
cả 2 văn bản này nhưng cũng gây lo lắng cho những DN chuẩn bị áp
dụng franchise.
Phát huy nội lực
Ông Hào c̣n cẩn thận:
Việc áp dụng mô h́nh này giúp DN có thể mở rộng nhanh chóng quy mô
kinh doanh mà không cần đầu tư nhiều vốn. Tuy nhiên việc duy tŕ
thành công mô h́nh kinh doanh franchise đ̣i hỏi DN phải có nội lực
khá mạnh, đặc biệt là đội ngũ nhân viên làm công tác huấn luyện,
công tác phục vụ và hỗ trợ kinh doanh cho đối tác. Ngoài ra, việc
kiểm soát để làm sao cho đối tác hợp tác trung thành, gắn bó với Cty
cũng là một vấn đề. Trong franchise có sự chuyển giao công nghệ và
kỹ thuật chế biến sản phẩm. Nếu sau một thời gian đối tác nắm vững
kỹ thuật, công nghệ... mà “quay lưng” với ḿnh th́ thiệt hại của DN
là không thể tính được...
Mặt khác, đối với
các DN VN franchise vẫn c̣n là một ẩn số. Nhiều DN đă giải ẩn số này
nhưng chưa tường tận, chưa biết hết “đường đi nước bước” của nó để
có thể thành công ngay chính trên sân nhà và có thể thành công ở thị
trường thế giới. Chính v́ vậy, xây dựng một cơ sở pháp lư vững chắc
cho franchise là một yêu cầu cấp bách hiện nay.
Vơ Thuận thực
hiện
Nguồn tin lấy từ:
www.dddn.com.vn
3. Nhượng quyền thương mại trong ngành công nghiệp bán lẻ sẽ phát
triển
Theo số liệu tại cuộc hội thảo về “Thương hiệu và nhượng quyền
thương mại trong ngành công nghiệp bán lẻ” do Trung tâm Xúc tiến
thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) và Công ty Việt Âu phối hợp tổ
chức vào sáng ngày 14/12, tỷ trọng của ngành công nghiệp bán lẻ Việt
Nam dao động ở mức 40,8-41,6% GDP trong khoảng thời gian 1999-2004.
Doanh thu bán lẻ đạt hơn 343.000 tỷ đồng trong
năm 2004. Nhờ vào sự mở rộng của các nhà bán lẻ hàng đầu (trong và
ngoài nước), xu hướng mua sắm thông qua kênh phân phối hiện đại (siêu
thị, trung tâm thương mại, cửa hàng chuyên dụng) phát triển đến các
tỉnh thành trong cả nước. Hiện Việt Nam đối mặt với sự xâm nhập khá
thành công của các nhà bán lẻ đa quốc gia về lĩnh vực siêu thị,
trung tâm mua sắm, thức ăn nhanh, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, làm
đẹp. Trước những thách thức đối với hệ thống phân phối nội địa khi
Việt Nam hội nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, các chuyên gia
ngành quảng cáo tiếp thị đến từ Malaysia, Singapore và doanh nghiệp
Việt Nam thực hiện nhượng quyền thương mại (Franchising) thành công
như Phở 24, Trung Nguyên đă chia sẻ kinh nghiệm tại hội thảo. Dự
kiến vào tháng 3/2006, ITPC và Công ty Việt Âu sẽ ra mắt Câu lạc bộ
Doanh nghiệp nhượng quyền thương mại nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp
Việt Nam trong quá tŕnh nhượng quyền thương mại đối với thương hiệu
uy tín trong và ngoài nước.
Nguồn tin lấy từ:
www.saigonnews.vn
4.
Cạnh tranh bằng nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền
thương mại là cách để tăng sức mạnh cho các thương hiệu và cũng là
cách quảng bá, tạo nội lực cho thương hiệu.
Theo dự đoán của các chuyên gia thương mại,
sau khi VN gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sự mở cửa cho
các tập đoàn bán lẻ, ngành hàng thức ăn nhanh và siêu thị sẽ xâm
nhập thị trường VN một cách ồ ạt. Để chống đỡ, theo các chuyên gia,
chỉ có cách nhượng quyền thương mại... Đây cũng là nội dung chính
buổi hội thảo về vấn đề này do Trung tâm Xúc tiến thương mại và Đầu
tư TPHCM (ITPC) phối hợp với Báo Sài G̣n Tiếp Thị tổ chức ngày 13-12
tại TPHCM.
Một cách tập trung sức mạnh
Theo bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc ITPC, ngành
công nghiệp bán lẻ của VN chiếm tỉ trọng rất cao trong GDP. Điều đó
cho thấy, thị trường bán lẻ VN vô cùng hấp dẫn đối với các nhà đầu
tư nước ngoài. Thậm chí một số mặt hàng đă và đang có nguy cơ bị áp
thuế chống bán phá giá cũng được các nhà bán lẻ thế giới nḥm ngó.
Cách đây vài hôm, tập đoàn bán lẻ Vall Mart đă có buổi làm việc với
ITPC để trao đổi về nội dung này. Trên thực tế, từ năm 2000 các nhà
bán lẻ đa quốc gia đă xâm nhập vào thị trường bán lẻ VN và hệ thống
phân phối nội địa ở VN đang đứng trước nguy cơ bị điều khiển bởi các
tập đoàn nước ngoài do sự non yếu của ḿnh. Chính v́ vậy, theo các
chuyên gia, nhượng quyền thương mại là cách để tăng sức mạnh cho các
thương hiệu VN và cũng chính là cách tốt nhất để quảng bá cũng như
tạo nội lực cho thương hiệu đó.
Ông Lư Quư Trung, Giám đốc tập đoàn Nam An,
ông chủ nhăn hiệu Phở 24, cho rằng, sở dĩ các thương hiệu trong
ngành bán lẻ của Mỹ và các nước phát triển giàu, mạnh, khó cạnh
tranh là nhờ cách nhân rộng các thương hiệu thành công qua nhượng
quyền thương mại. Ông Terry Ghani, Giám đốc TGA (Malaysia), dự báo
sẽ có một cuộc đổ bộ của nhiều nhăn hiệu nước ngoài tràn vào VN và
các thương hiệu VN phải “chiến đấu” để giữ được thị phần của ḿnh.
Thành công của chuỗi cửa hàng nhượng quyền với các sản phẩm về gà
KFC là một minh chứng điển h́nh không chỉ ở VN mà cả nhiều nước trên
thế giới. Chính v́ vậy, nhượng quyền thương mại là cách tập trung
sức mạnh trong cuộc cạnh tranh khốc liệt khi VN gia nhập WTO.
Nhân rộng thành công
Ông Luke Lim, Giám đốc A.S Louken (Singpore),
cho biết ở Singapore, rất nhiều thương hiệu thành công và nổi tiếng
nhờ nhượng quyền thương mại. Điển h́nh như thương hiệu Bread Talk,
hệ thống các cửa hàng bán lẻ rất nổi tiếng ở Singapore. Chỉ trong
ṿng 6 năm thương hiệu này đă xây dựng một loạt các cửa hàng với
cách bài trí thống nhất, đẹp mắt và hiện đại, sau đó nhượng quyền
thương mại ở nhiều nơi như Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia,
Philippines, Đài Loan và trở thành một thương hiệu nổi tiếng cả khu
vực...
Ở VN, vấn đề nhượng quyền thương mại c̣n
khá hiếm. Tuy nhiên, việc thành công trong nhượng quyền thương mại
của thương hiệu Phở 24 khiến cho nhiều nhà kinh doanh bán lẻ của VN
phải tính toán lại việc xây dựng và quảng bá thương hiệu thông qua
con đường này. Ông Lư Quư Trung cho biết ư định nhượng quyền thương
mại đă có từ khi bắt đầu xây dựng thương hiệu cho Phở 24. Hiện nay,
hệ thống Phở 24 đă có 19 cửa hàng tại 3 miền Bắc, Trung, Nam (VN), 1
cửa hàng ở Indonesia, trong đó đă nhượng quyền thương mại 8 cửa hàng.
Dự kiến năm 2006 sẽ phát triển lên 50 cửa hàng trong nước cũng như
xây dựng cửa hàng tại các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan,
Malaysia...
Theo ông Trung, nhượng quyền thương mại sẽ nhân
rộng thành công của một thương hiệu. Phí nhượng quyền thương mại của
Phở 24 là 7.000 USD/cửa hàng; ở nước ngoài vào khoảng 12.000 USD/cửa
hàng. Công ty mẹ sẽ lo trọn gói trong việc tổ chức huấn luyện nhân
viên sao cho cửa hàng nhượng quyền và các cửa hiệu gốc không có ǵ
khác nhau, khách hàng không phân biệt được. “Chỉ cần vài chục thương
hiệu nhượng quyền thành công sẽ có vài trăm, vài ngàn ông chủ thành
công, DN thành công”- ông Trung nói.
Nguồn tin lấy từ:
www.moi.gov.vn
5. Kinh doanh nhượng quyền, cơ hội đang đến
Ở các
nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, kinh doanh nhượng quyền được xem là
“kinh tế lót bạc” bởi đây là phương thức đơn giản hóa những mối lo
ngại trong kinh doanh thông thường. Tại Mỹ, hiện có hơn 550.000
Franchises (cửa hàng nhượng quyền), chiếm 40% lợi nhuận tại đây.
Theo báo cáo, có đến 90% công ty sử dụng h́nh thức Franchising tiếp
tục hoạt động sau 10 năm, trong khi đó khoảng 82% công ty độc lập
phải đóng cửa.
Tại
Trung Quốc, cách đây 4 năm nhiều DN không hề biết Franchising là ǵ,
thế nhưng hiện nay Trung Quốc là một trong những thị trường
Franchising “nóng bỏng” nhất thế giới với sự có mặt của hầu hết các
thương hiệu nổi tiếng.
Theo ông
Albert Kong, Chủ tịch Công ty Asiawide Franchise Consultant, một
trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực tư vấn Franchising tại
châu Á, hiệu quả của việc nhượng quyền kinh doanh là rất lớn như xây
dựng hệ thống nhanh, hoạt động có bản quyền và qui mô kinh tế… Nhưng
đây cũng là cơn ác mộng nếu việc Franchising không có kế hoạch và
thực hiện kế hoạch không chính xác.
Một nhà
đầu tư dự báo, Franchising sẽ là h́nh thức kinh doanh phát triển
mạnh tại VN. Đây sẽ là điểm đến ưu tiên đầu tiên v́ VN an toàn,
không có xung đột về tôn giáo, chính trị… Ông Robert Bannerman, Tùy
viên Thương mại Tổng Lănh sự quán Hoa Kỳ (Thương vụ Hoa Kỳ, TP.HCM)
cho rằng, Franchising là công thức thành công lư tưởng cho doanh
nhân. VN đang đứng trước cơ hội kinh doanh lớn từ các ngành hàng
tiêu dùng, dịch vụ và bán lẻ.
Muốn mở Franchise cần bao nhiêu tiền?
Trên thị
trường VN, hiện có chỉ có vài DN tiên phong trong lĩnh vực này như
cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Highlands Coffee và Kinh Đô… hầu hết
kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm. Như vậy cánh cửa Franchising
tại VN đang dang rộng để đón các nhà đầu tư. Tại Franchising 2005
lần này có khá nhiều lĩnh vực kinh doanh để DN VN tham khảo. Tập
đoàn giáo dục Crestra giới thiệu việc nhượng quyền kinh doanh hệ
thống trường mẫu giáo trong khu vực, Tập đoàn Da Vinci Group - nhăn
hiệu kinh doanh đồ nội thất, đồ trang sức và thời trang, Tập đoàn
Pasta Fresca Da Salvatore chuyên kinh doanh thực phẩm truyền thống Ư
và Sign A Rama chuyên kinh doanh bảng hiệu…
Lư giải
v́ sao đến VN để t́m đối tác nhượng quyền kinh doanh, ông Eric Wong,
Tổng giám đốc Pasta Fresca cho hay, với dân số gần 84 triệu người và
GDP tăng 7%/năm, thị trường VN sẽ là chiếc bánh ngọt đáng chú ư.
Theo
tính toán, để mở một Franchise DN cần khoảng 200.000 USD (giá trung
b́nh), trong đó, chi phí khởi sự khoảng từ 10 - 25.000 USD. Thông
thường các công ty Franchising có sẵn một khoản vay lợi tức thấp cho
DN mở Franchise (các khoản trả chậm và hỗ trợ tài chính). Chẳng hạn
thương hiệu bán lẻ 7-Eleven’s có chương tŕnh “Tự ḿnh làm chủ” hỗ
trợ DN. Nếu chỉ mở Franchise là một cửa hàng nhỏ hoặc một ki-os th́
giá trung b́nh là 3.000 - 5.000 USD.
Nguyễn Sa thực hiện
Nguồn tin lấy từ:
www.vietnamnet.vn
6. Cuộc đua tranh trên thị trường bán lẻ
Sự xuất
hiện ồ ạt của các “đại gia” bán lẻ quốc tế theo cam kết mở cửa thị
trường khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đă làm thay
đổi diện mạo của thị trường bán lẻ Việt Nam và tạo nên một cuộc đua
tranh quyết liệt trong việc kiểm soát kênh phân phối giữa các nhà
phân phối trong và ngoài nước.
Tập quán
“tiện đâu mua đấy, tiện chỗ nào họp chợ chỗ đó” đă nhường bước cho
lối kinh doanh văn minh hơn, nơi người dân có thể mua hàng với cơ sở
hạ tầng hiện đại, hàng hóa đa dạng, chất lượng giá cả ổn định và có
nhiều h́nh thức khuyến măi, chăm sóc khách hàng.
Tuy
nhiên, trong cuộc đua tranh không cân sức này, những cửa hàng tạp
hóa - mô h́nh kinh doanh nhỏ lẻ - buộc phải tự rút lui và t́m hướng
kinh doanh mới để tồn tại, cho dù họ biết trước là sẽ rất khó khăn.
Chỉ
trong ṿng 5 năm trở lại đây, hàng loạt các đại siêu thị được các
nhà phân phối nước ngoài xây dựng khắp Việt Nam. Khởi đầu là Metro &
Carry (Đức), nhà phân phối lớn thứ 5 thế giới đă nhanh chân xây dựng
6 trung tâm phân phối ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Pḥng,
Cần Thơ và Đà Nẵng. Sắp tới, Metro sẽ đưa Trung tâm thứ hai ở Hà Nội
đi vào hoạt động. Big C, tập đoàn bán lẻ “khét tiếng” đă được cấp
phép thành lập 4 siêu thị và Big C Thăng Long trở thành siêu thị bán
lẻ lớn nhất Việt Nam với tổng số vốn đầu tư 12 triệu USD. Tập đoàn
Parkson (Malaixia) đă chính thức tham gia thị trường bằng việc khai
trương Trung tâm mua sắm đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh trong hệ
thống 10 trung tâm mà tập đoàn này dự định đầu tư tại Việt Nam.
Theo Bộ
Kế hoạch-Đầu tư, đây chỉ là bước dạo đầu của một làn sóng đầu tư lớn
đang chuẩn bị vào Việt Nam. Hiện nay, một số tập đoàn bán lẻ hàng
đầu thế giới đă đến khảo sát thị trường và bày tỏ ư định đầu tư vào
Việt Nam, trong số đó có các đại gia như Tesco của Anh, Giant South
Asia Investment Pte của Xinhgapo, rồi Wal-Mart và Carrefour.
Những
siêu thị hiện đại "mọc lên như nấm" không những làm cho thị trường
bán lẻ Việt Nam thêm sôi động mà c̣n giúp người tiêu dùng có cơ hội
tiếp cận với nhiều loại h́nh phân phối mới. Phân phối qua mạng đang
phát triển vừa chính thức vừa ngầm nhưng rất mạnh mẽ với vô số trang
web tiếng Việt khác nhau thực hiện các giao dịch trên mạng. Bên cạnh
đó, nhượng quyền thương mại cũng có nhiều tiềm năng phát triển, và
Trung Nguyên và Kinh Đô là 2 nhà tiên phong trong lĩnh vực này.
Trước
những động thái mới trên thị trường bán lẻ, Bộ Thương mại đă lên kế
hoạch củng cố, phát triển hệ thống phân phối nội địa. Theo ông Hoàng
Thọ Xuân, Vụ trưởng Vụ Chính sách thị trường trong nước, Bộ Thương
mại, trong thời gian tới, Bộ sẽ tập trung h́nh thành và phát triển
khoảng 15-20 nhà phân phối hàng hóa lớn, tạo ra một hệ thống phân
phối mạnh, một số kênh lưu thông hàng hóa ổn định, làm ṇng cốt cho
việc b́nh ổn và phát triển thị trường nội địa, góp phần tăng trưởng
kinh tế và thúc đẩy xuất khẩu.
Tại các
thành phố lớn, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Bộ Thương
mại sẽ chú trọng xây dựng và phát triển các trung tâm bán buôn nông
sản, thực phẩm với những dịch vụ bổ trợ kèm theo như môi giới, tư
vấn, cung cấp thông tin, sơ chế, đóng gói, bảo quản, xếp dỡ và vận
chuyển hàng hóa, trông coi tài sản, cung cấp vật tư sản xuất, xử lư
chất thải.
Cùng với
sự hỗ trợ của Bộ Thương mại, các doanh nghiệp phân phối nội địa cũng
đă chuẩn bị đương đầu với những “đại gia” phân phối quốc tế. Tổng
công ty Thương mại Sài G̣n đă đề ra chương tŕnh phát triển hệ thống
phân phối của ḿnh bằng cách nâng cấp các cơ sở hiện có, xây dựng
mới các siêu thị, trung tâm thương mại và chợ đấu mối lớn như đầu tư
30 tỷ xây dựng siêu thị Sài G̣n, xây dựng chợ đầu mối B́nh Điền quy
mô 65ha trị giá gần 1.000 tỷ đồng, xây dựng Trung tâm chợ trái cây
quốc gia Tiền Giang 47 tỷ đồng; liên kết với với các doanh nghiệp
trong nước xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị ở Huế, Đà
Nẵng, Đà Lạt với số vốn đầu tư mỗi dự án từ 40 đến 100 tỷ đồng.
Công ty Xuất nhập khẩu Intimex, doanh nghiệp phân
phối chủ lực của Bộ Thương mại, cũng đề ra chiến lược phát triển 10
năm với tốc độ tăng trưởng b́nh quân 30%/năm, trong đó sẽ xây dựng
hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại 3 cấp bao gồm hệ thống cửa
hàng tự chọn phục vụ cho từng khu vực dân cư trong bán kính hẹp với
nhu cầu mua sắm nhanh các mặt hàng thiết yếu; hệ thống siêu thị bán
lẻ phục vụ đông đảo đối tượng người tiêu dùng với các mặt hàng trung
b́nh thiết yếu trong cuộc sống thường nhật; hệ thống trung tâm
thương mại phục vụ cho các đối tượng có khả năng mua sắm hàng cao
cấp, khách du lịch, gắn liền với các dịch vụ giải trí, làm đẹp...
Intimex cũng dự định xây dựng một trung tâm dự trữ phân phối lớn
Nguồn tin lấy từ:
www.vnanet.vn
7. Báo hiệu cạnh
tranh “nảy lửa”
Với việc
bắt đầu thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ phân
phối theo các hiệp định song phương đă được kư kết với một số đối
tác trong quá tŕnh hội nhập, việc phát triển dịch vụ phân phối tại
Việt
Nam
trong giai đoạn 2006 - 2010, trước mắt là trong 2 năm tới, được
nhiều chuyên gia kinh tế dự báo là sẽ có nhiều thay đổi đáng kể, tác
động lớn tới hệ thống tổ chức phân phối lưu thông nội địa, hoạt động
phân phối hàng hoá.
Theo Vụ Chính sách
thương mại đa biên (Bộ Thương mại), tính đến tháng 3/2005, Việt Nam
đă có cam kết về mở cửa thị trường phân phối cho Mỹ và Nhật Bản (theo
Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp định Bảo hộ và Xúc
tiến đầu tư Việt Nam - Nhật Bản đă được kư kết), trong đó riêng các
cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đă bắt đầu có
hiệu lực từ tháng 12/2001 đối với 4 phân ngành chính của dịch vụ
phân phối là bán buôn, bán lẻ, đại lư và nhượng quyền thương mại.
Tại thời điểm này, Việt Nam đang tiến hành đàm phán mở cửa thị
trường phân phối trong khuôn khổ đàm phán gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO) và trong 1-2 năm tới, sẽ tiếp tục tham gia đàm
phán về dịch vụ phân phối trong khuôn khổ các hiệp định thương mại
tự do ASEAN với các đối tác trong khuôn khổ ASEAN +.
Theo ông Nguyễn Hồng Thanh, chuyên gia Vụ Chính sách thương mại đa
biên, riêng các cam kết về mở cửa lĩnh vực dịch vụ phân phối dành
cho các nhà đầu tư Nhật Bản theo Hiệp định Bảo hộ và Xúc tiến đầu tư
Việt Nam - Nhật Bản là các cam kết có mức độ cao nhất của Việt Nam
với đối tác nước ngoài tính đến thời điểm này. “Có 3 mức vốn cam kết
là 49%, hơn 49% và 100% sẽ được cho phép vào thời điểm Việt Nam cho
phép bất kỳ nhà đầu tư của nước thứ ba nào hoặc thời điểm cam kết
của Việt Nam với bất kỳ nước thứ ba nào có hiệu lực, tuỳ thời điểm
nào diễn ra trước. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nhà phân
phối Nhật Bản hiện nay được phép vào Việt Nam và được hưởng cách đối
xử tương đương như với các tập đoàn phân phối Pháp, Đức và Malaysia
đă có mặt tại Việt Nam”, ông Thanh khẳng định.
Như vậy, với các cam
kết quốc tế này, Việt Nam sẽ từng bước mở cửa thị trường dịch vụ
phân phối cho các nước, trước hết là Mỹ và Nhật Bản và tiếp sau đó
là các nước thành viên khác của WTO sau khi Việt Nam gia nhập Tổ
chức này. “Mặc dù hiện nay Việt Nam chưa là thành viên của WTO,
nhưng có thể thấy rằng, bức tranh hệ thống phân phối trong nước đă
hết sức sôi động với điểm nổi bật là các nhà đầu tư nước ngoài xuất
hiện ngày càng nhiều. Xu hướng này sẽ trở thành chủ đạo trong những
năm tới khi Việt Nam thực sự hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế
quốc tế”, ông Thanh nhấn mạnh.
Vậy tương lai thị
trường dịch vụ phân phối trong nước sẽ sôi động đến mức nào? Hoàn
toàn không c̣n là một tương lai xa vời nữa khi Vụ Chính sách thương
mại đa biên đưa ra dự báo rằng, sẽ chỉ trong ṿng 1-2 năm tới, các
rào cản về việc gia nhập và rút khỏi hệ thống phân phối sẽ dần được
loại bỏ theo lộ tŕnh thực hiện các cam kết quốc tế, đi kèm với đó
sẽ là các cải cách của Chính phủ nhằm tạo môi trường đầu tư và kinh
doanh thông thoáng, cởi mở hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. “Trong
bối cảnh đó, bên cạnh sự có mặt của các tập đoàn phân phối đa quốc
gia như Big C, Metro Cash & Carry, Cora..., nhiều khả năng trên thị
trường Việt Nam sẽ c̣n có thêm những tập đoàn siêu thị lớn trên thế
giới như Wal - Mart (Mỹ), Carrefour (Pháp)...
Khi đó, hệ thống
phân phối không c̣n là một mảnh đất đặc quyền của các doanh nghiệp
trong nước và để có thể không bị gạt ra ŕa th́ cách duy nhất là các
doanh nghiệp trong nước phải động năo t́m cách cạnh tranh và chủ
động tham gia sân chơi này”, ông Thanh cảnh báo.Không chỉ có các tập
đoàn phân phối lớn của nước ngoài, một lực lượng khá đông đảo người
Việt Nam kinh doanh tại nước ngoài, nhất là tại Nga và các nước Đông
Âu, cũng được dự báo sẽ là những người tham gia chia sẻ thị phần hệ
thống phân phối nội địa, đồng thời trở thành mắt xích quan trọng
trong hệ thống phân phối hàng Việt Nam, nhưng mang thương hiệu quốc
tế (thay v́ hàng Trung Quốc giá rẻ như hiện nay). C̣n đối với các
nhà phân phối trong nước, dự báo sẽ có một quá tŕnh tích tụ và tập
trung diễn ra mạnh mẽ giữa các nhà phân phối nội địa tạo thành các
chuỗi liên kết với các nhà sản xuất, các ngân hàng để tăng cường sức
cạnh tranh. Theo ông Thanh, đây là việc bắt buộc phải làm để duy tŕ
sự tồn tại cho các nhà phân phối trong nước trong bối cảnh cạnh
tranh ngày càng trở nên khốc liệt khi lộ tŕnh mở cửa đă cận kề. Vấn
đề quan trọng là càng làm sớm th́ càng giúp doanh nghiệp trong nước
có nhiều thời gian để thích nghi và tăng năng lực cạnh tranh của
ḿnh trước khi bước vào cuộc cạnh tranh “nảy lửa” này.
Nguồn tin lấy từ:
www.hanoitv.org.vn
8. Bùng nổ thị trường bán lẻ, phân phối truyền thống thất thế
Việt Nam đang trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn đối với các tập
đoàn bán lẻ thế giới. Thực tế đang chứng minh điều đó, song thị
trường bán lẻ có thực sự bùng nổ ở Việt Nam như dự đoán?
Hấp lực đầu tư
Theo
nh́n nhận của ông Terry Ghani, Giám đốc TGA Malaysia, nhà quảng cáo
và tiếp thị hàng đầu tại Malaysia, Việt Nam (Việt Nam) đang được xem
như là một “thiên đường”, một thị trường tiềm ẩn của hoạt động bán
lẻ. Ông Ghani chứng minh: Việt Nam có nền chính trị ổn định, tỷ lệ
người biết chữ cao nên rất dễ thông tin bằng h́nh thức viết. Có đến
70% dân số dưới 30 tuổi, điều này rất có lợi trong việc duy tŕ và
phát triển bền vững thị trường bán lẻ tại Việt Nam. Bên cạnh đó,
Việt Nam c̣n là cửa ngơ dẫn tới một số thị trường như Ấn Độ, Trung
Quốc, Campuchia, Lào…
Cùng
quan điểm trên, bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương
mại-đầu tư TP Hồ Chí Minh (ITPC), một trong các đơn vị tổ chức hội
thảo “Thương hiệu và nhượng quyền thương mại trong ngành công nghiệp
bán lẻ” tại TP Hồ Chí Minh ngày 14-12, đă đưa ra những con số khá ấn
tượng: Ngành công nghiệp bán lẻ vẫn giữ được tỷ trọng của nó trong
GDP, doanh thu bán lẻ tăng mạnh trong năm 2004 đạt hơn 343 tỷ đồng,
tăng 13% so với năm 2003.
Người
tiêu dùng có mức chi tiêu từ 500 ngàn đồng trở lên tập trung chủ yếu
ở độ tuổi từ 22-55 tuổi; trong đó, người tiêu dùng độ tuổi 22-35 có
mức chi tiêu từ 500 ngàn đồng trở lên chiếm tới 39,91%, mức cao nhất
trong các độ tuổi. Kế đến là 36-55 tuổi, có mức chi tiêu từ 500 ngàn
đồng trở lên chiếm 34,38%. Như vậy, những người trong độ tuổi tạo ra
thu nhập (22-55 tuổi) là những người chi tiêu nhiều nhất, chiếm
70,29%.
Sự tăng
trưởng của doanh số bán lẻ trong tổng số chỉ tiêu người tiêu dùng
thể hiện sự mong muốn của người Việt Nam trong việc nâng cao chất
lượng cuộc sống. Khuynh hướng tiêu dùng đă có sự chuyển dịch từ h́nh
thức truyền thống sang các phương thức bán hàng hiện đại.Ngoài những
hấp lực kể trên, theo đánh giá của đại diện tập đoàn chuyên tư vấn
bất động sản CB Richard Ellis (CBRE) th́ sức hấp dẫn c̣n do mức giá
cho thuê các trung tâm thương mại tại Việt Nam khá rẻ và linh động.
Hiện mức giá cho thuê tại Việt Nam ở mức b́nh quân 30 USD/m2/tháng,
thấp hơn nhiều so với các trung tâm kinh tế trong khu vực như Bắc
Kinh, Hồng Công, Thượng Hải, Singapore, Đài Loan, Thái-lan…
Bùng nổ thị trường bán lẻ
Điểm mấu
chốt thúc đẩy các tập đoàn bán lẻ đổ bộ vào Việt Nam chính là những
con số, những thành quả thực tế mà các nhà đầu tư, các tập đoàn và
DN hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ đạt được khi mạnh dạn mở đường
tại Việt Nam. Nếu năm 1996 trên địa bàn cả nước mới có một siêu thị
ra đời là CitiMart, th́ đến thời điểm hiện nay, chỉ tính riêng TP Hồ
Chí Minh đă có tới hơn 60 siêu thị và trung tâm thương mại. Các h́nh
thức phân phối hiện đại như siêu thị hiện giờ không chỉ tập trung ở
các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội mà đang lan rộng đến
các tỉnh có tiềm năng. Maximart là một trong những “người tiên phong”
khi mở rộng chuỗi siêu thị đến Nha Trang.
Tiếp đến,
năm 2003, hệ thống siêu thị Co.opMart khai trương siêu thị ở Quy
Nhơn và Cần Thơ. Hiện nay, Co.opMart đang muốn củng cố vị trí của
nhà phân phối số 1 tại Việt Nam bằng một chiến lược phát triển cả về
chiều sâu và rộng bằng việc h́nh thành hệ thống các siêu thị. Năm
2010, dự kiến Co.opMart sẽ có 40 siêu thị trên cả nước, đồng thời
liên kết siêu thị với các cơ sở sản xuất, kho dự trữ thành một hệ
thống liên hoàn từ khai thác, vận chuyển, chế biến đến bán lẻ để gia
tăng giá trị sản phẩm. Song song đó, tại TP Hồ Chí Minh, sự vào cuộc
và kinh doanh thành công của các trung tâm thương mại (TTTM) lớn như
Diamond Plaza, An Đông Plaza, Zen Plaza… cũng đánh dấu sự bùng nổ
của thị trường bán lẻ.
Năm 2000
cũng là năm đầu tiên các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia thâm nhập vào
thị trường Việt Nam. Chỉ sau 5 năm, đă có gần 10 tập đoàn như
Bourbon Group, Metro Cash&Carry, Lotteria, Medicare… và gần đây là
Parkson hoạt động trong các lĩnh vực siêu thị, thức ăn nhanh, trung
tâm mua sắm, chăm sóc sức khỏe. Số lượng các cửa hàng của các tập
đoàn này cũng không ngừng được mở rộng trên địa bàn cả nước. Sau
Parkson, cái tên được nhắc đến nhiều nhất hiện nay là Dairy Farm (Hồng
Công), hiện đang chờ cấp phép để thành lập doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
Kênh phân phối truyền thống thất thế
Theo
phân tích của bà Đỗ Thị Bích Huệ, Giám đốc Công ty Việt Âu, triển
vọng của ngành công nghiệp bán lẻ tại Việt Nam cũng đồng nghĩa với
các kênh phân phối truyền thống như chợ và cửa hàng tạp hóa dần bị
thu hẹp. Bên cạnh đó, thị trường mở cửa, nhiều sản phẩm nước ngoài
sẽ xâm nhập thị trường Việt Nam và lấn áp về thương hiệu. Một khi
kênh phân phối truyền thống bị suy yếu sẽ kéo theo sự sụp đổ của các
DN Việt Nam!
Bà Vũ
Kim Hạnh cũng cho rằng, khi Việt Nam trở thành hội viên của WTO th́
hệ thống phân phối nội địa ở Việt Nam cũng đối diện nguy cơ bị điều
khiển bởi các tập đoàn nước ngoài khi mà các DN Việt Nam thiếu một
kế hoạch vững chắc cho ngành bán lẻ nội địa.
Một quan
chức trong Bộ Thương mại nói, theo lộ tŕnh cam kết trong Hiệp định
Thương mại Việt-Mỹ, từ năm 2007, các DN Mỹ sẽ được tham gia cạnh
tranh b́nh đẳng với các DN trong nước trong lĩnh vực thương mại.
Hiện các tập đoàn bán lẻ của nhiều nước trên thế giới cũng đang muốn
tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam. Làm thế nào để xây dựng
được các tập đoàn, kênh phân phối đủ mạnh do chính các DN Việt Nam
nắm giữ? Vấn đề này, nếu không tính đến từ bây giờ, e sẽ quá muộn…
Nguồn tin lấy từ:
www.nhandan.com.vn
9. Cuộc chiến thị phần giữa các thương hiệu cà phê ḥa tan
Cuộc chiến giành thị phần cà phê ḥa tan (CPHT) đang diễn ra gay gắt
giữa ba thương hiệu CPHT hàng đầu Việt Nam hiện nay là Vinacafé của
Công ty cổ phần Cà phê Biên Ḥa, Nescafé của tập đoàn thực phẩm
Nestlé và G7 của Công ty TNHH Trung Nguyên.
Nắm ưu
thế là đơn vị quốc doanh đầu tiên sản xuất CPHT do tiếp quản nhà máy
công suất thiết kế 80 tấn/năm sau ngày đất nước thống nhất, Vinacafé
từng có hơn hai thập kỷ thảnh thơi một ḿnh một chợ. Năm 1997,
Vinacafé đầu tư thêm dây chuyền 800 tấn/năm.
Nescafé
tựa vào tấm lưng khổng lồ của Công ty mẹ - Nestlé, sở hữu 8.000 mác
sản phẩm trên toàn thế giới, hàng trăm nhà máy tại hơn 80 quốc gia
và vùng lănh thổ, trong đó có Công ty TNHH Nestlé Việt Nam đóng tại
khu công nghiệp Biên Ḥa 2.
10 năm
hoạt động tại Việt Nam đủ để Nestlé hiểu rơ thị trường Việt và rải
khắp đất nước này nhiều mặt hàng chất lượng cao. Vào thời điểm cuối
năm 2003 họ từng chiếm lĩnh quá nửa thị phần CPHT nội địa. Mỗi năm
Nestlé Việt Nam tiêu thụ đến 25% sản lượng cà phê nguyên liệu Việt
Nam sản xuất.
Trẻ
trung, năng động, táo bạo là đ̣n bẩy mạnh mẽ đưa Trung Nguyên -
Doanh nghiệp tư nhân đầu tiên của Việt Nam giành thắng lợi lớn trong
việc áp dụng h́nh thức Franchising (nhượng quyền thương mại) để chỉ
sau chín năm thành lập, thương hiệu Trung Nguyên đă nổi danh với hệ
thống trên 500 quán nhượng quyền khắp trong ngoài nước. Vừa vươn lên
hàng đầu về chế biến cà phê rang xay, Trung Nguyên đă lập tức tiến
công vào thị trường CPHT.
Tháng
11-2003, CPHT mang tên G7 vừa ra đời đă được Trung Nguyên tiếp thị
tưng bừng trên đường phố, tổ chức “Ngày hội tuyệt đỉnh” tại Dinh
Thống Nhất (TP Hồ Chí Minh) mời hàng vạn người tiêu dùng tham gia
“thử mù” (nếm không biết nhăn hiệu) để đối chiếu khẩu vị với sản
phẩm cùng loại của một Công ty nổi tiếng khác. Kết quả, tới 89%
người tiêu dùng chọn G7... Những chiêu cạnh tranh lợi hại này lập
tức phát huy tác dụng. Chỉ vài tháng sau, G7 đă chiếm lĩnh được 35%
thị phần CPHT.
Từ đó
đến nay, cuộc chiến giành thị phần CPHT ngày càng gay gắt. Tỷ lệ thị
phần CPHT giữa các thương hiệu mạnh biến đổi không ngừng, phần lớn
dịch chuyển theo các cao điểm khuyến măi tiếp thị của các Công ty.
Tháng
11-2005 Trung Nguyên khánh thành nhà máy CPHT ở B́nh Dương trị giá
10 triệu USD. Vinacafé lắp thêm dây chuyền CPHT thứ ba trị giá hơn
20 triệu USD, công suất 3.000 tấn/năm, sẽ đưa vào hoạt động năm
2006. Vinamilk sau những bước thăm ḍ đă giành 160 tỷ đồng xây nhà
máy chế biến cà phê rang xay và CPHT dự kiến khánh thành tháng
9-2006.
Ngoài ra,
hàng chục loại CPHT nội địa khác cũng lần lượt xuất hiện. Riêng ở
Đác Lắc có thêm CADA (Công ty CP Phước An), VICA (Công ty Cao su
Krông Buk), An Thái... Mỗi nhăn hiệu xuất hiện lại kéo theo hàng
loạt phương thức chào hàng mới mà có thể nói, người châm ng̣i cho
cuộc chiến thị phần CPHT này không ai khác, chính là Đặng Lê Nguyên
Vũ - Tổng Giám đốc Công ty Cà phê Trung Nguyên.
Festival
Cà phê Buôn Ma Thuột thu hút hàng vạn công chúng. Dù rất nhiều doanh
nghiệp mời khách thưởng thức miễn phí cà phê tuyệt ngon, nhưng đông
đúc ồn ào nhất vẫn là gian hàng Trung Nguyên với nghệ sĩ, doanh nhân,
sinh viên học sinh tấp nập ra vào.
Bên tách
CPHT G7, Đặng Lê Nguyên Vũ vui vẻ trả lời câu hỏi Trung Nguyên được
và mất ǵ qua cuộc chiến này. Ông nói: Trung Nguyên phải dồn tổng
lực cho cuộc cạnh tranh, nhờ đó G7 đă chiếm một thị phần nội địa
đáng kể về CPHT. Nhưng lớn hơn cái lợi kinh tế v́ CPHT Trung Nguyên
chủ yếu xuất khẩu, là qua đó G7 đă góp phần đáng kể vào phong trào
người Việt dùng hàng Việt, nâng cao ư thức doanh nghiệp trẻ dám
đương đầu với các tập đoàn quốc tế ngay trên sân nhà. Tổng Giám đốc
Nestlé Việt Nam, ông Pie Chaufel Berger, sau lời phát biểu chào mừng
hôm khai mạc Festival đă vui vẻ tṛ chuyện với tôi, khen Trung
Nguyên là một thương hiệu tốt của Việt Nam: “Tôi nghĩ, doanh nhân
chân chính nào cũng sẵn ḷng bước vào cuộc cạnh tranh ṣng phẳng,
bởi nó tốt cho người tiêu dùng và là xu thế tất yếu hội nhập kinh tế
toàn cầu”.
Nguồn
tin lấy từ: www.nhandan.com.vn |