|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 20
(Tuần từ
12/12/2005-18/12/2005)
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng
kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
1. Quyết không đăng kư sở hữu trí
tuệ
Sau 12 năm sản xuất, một
công ty nôi tự động ở TP HCM đă có 5 mẫu sản phẩm và chuẩn bị ra mẫu
thứ 6. Thế nhưng ông giám đốc công ty quyết định không đi đăng kư
độc quyền kiểu dáng công nghiệp v́ cho rằng thủ tục đăng kư quá
nhiêu khê, làm lỡ cơ hội vàng cho sản phẩm ra thị trường.
Quyết định này xuất phát từ lư do ông đă ít nhất 3 lần làm hồ sơ
đăng kư nhưng đều thất bại. Ông nhớ lại lần đầu tiên đăng kư sáng
chế vào năm 1993, đợi 3 tháng rồi 6 tháng vẫn chưa có phản hồi của
Cục Sáng chế (tên gọi Cục Sở hữu trí tuệ, trực thuộc Bộ Khoa học và
Công nghệ lúc đó) trong khi thị trường đ̣i hỏi từng ngày. Ông đành
tung hàng ra mà không thể chờ pháp luật bảo hộ. Sau khi chờ đợi mỏi
ṃn, câu trả lời của Cục Sáng chế cho ông là: "Giải pháp kỹ thuật sử
dụng con nhíp để đẩy nôi là không có tính mới nên Cục không thể cấp
bằng sáng chế cho sản phẩm nôi tự động của ông".
Rồi ông liên tục cải tiến mẫu mă, năm 2000 và 2003 lại mang hồ sơ
đến Cục Sở hữu trí tuệ xin đăng kư độc quyền kiểu dáng công nghiệp
cho mẫu sản phẩm mới. "Tôi phải chờ gần 1 năm nữa kể từ khi nộp đơn
mới nhận được câu trả lời của Cục Sở hữu trí tuệ là mẫu sản phẩm đă
được bộc lộ trên thị trường nên không cấp độc quyền kiểu dáng công
nghiệp", ông giám đốc này cho biết.
Theo ông giám đốc, không phải sản phẩm của ông không bảo đảm yếu tố
tính mới như quy định, mà là v́ ông không chịu chi những khoản khác
ngoài chi phí cứng cho dịch vụ đăng kư sở hữu trí tuệ nên mới bị làm
khó dễ.
Rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khác - những cơ sở sản xuất sản
phẩm cơ khí như ông - mặc dù biết rơ tầm quan trọng của việc đăng kư
độc quyền kiểu dáng công nghiệp nhưng không đủ kiên nhẫn để theo đến
cùng. Về phần nôi tự động, ông giám đốc này cho biết hiện có 4-5 cơ
sở cùng sản xuất, tuy nhiên cách mà ông chống cạnh tranh để tồn tại
th́ rất đơn giản. "Khi có hàng nhái th́ tôi thiết kế tiếp một mẫu
mă, kiểu dáng mới cho có sự khác biệt, nhưng vẫn đáp ứng đúng thị
hiếu người tiêu dùng", ông nói.
Cũng ca thán về sự rườm rà khi làm thủ tục đăng kư sở hữu trí tuệ,
tác giả cuốn "Tự điển Pháp luật Việt - Anh" Vũ Quốc Tuấn cho biết: "Có
những quy định của Cục Sở hữu trí tuệ tôi thấy không cần thiết, ví
dụ như tại sao cứ phải viết bằng trang đánh máy với co chữ 12, dưới
hay trên co chữ này th́ không được; rồi phải soạn theo form trong đó
phải thể hiện rất nhiều tiêu chí kỹ thuật của sản phẩm mà đôi khi
nhà sản xuất cũng không thể hiểu sản phẩm của ḿnh thuộc tiêu chí
nào".
Theo ông Tuấn, để đăng kư được quyền tác giả cho cuốn sách của ḿnh,
ông đă phải nhờ tư vấn của 3 công ty luật chuyên về sở hữu trí tuệ
và cuối cùng giao trọn gói thủ tục đăng kư cho một văn pḥng luật sư
khác lo liệu.
Các luật sư chuyên về sở hữu trí tuệ đều cho rằng doanh nghiệp vừa
và nhỏ hiện nay chưa chú trọng đến việc đăng kư bảo hộ sở hữu trí
tuệ (nhăn hiệu, kiểu dáng, sáng chế...) nên phải chịu nhiều thiệt
hại khi có một doanh nghiệp cùng ngành đăng kư độc quyền cho cùng
sản phẩm.
Luật sư Trần Công Danh thuộc Chi nhánh Văn pḥng luật sư Quang Luật
cho rằng, các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam chưa
đủ để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là khi có khiếu kiện
của doanh nghiệp về t́nh trạng vi phạm kiểu dáng, nhăn hiệu đă được
đăng kư bảo hộ. Theo ông Danh, hiện nay sản phẩm nhái hàng ngoại
tràn lan trên thị trường, người làm hàng nhái lại mang sản phẩm đi
đăng kư độc quyền kiểu dáng công nghiệp luôn.
Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khẳng định, hiện có sự lập lờ giữa
thông tin "sản phẩm đă được đăng kư bảo hộ" và "sản phẩm đă được cấp
bằng" nhằm đánh lừa người tiêu dùng và "khủng bố" những doanh nghiệp
chưa đăng kư bảo hộ. "Người tiêu dùng khó phân biệt được sản phẩm đă
đăng kư với sản phẩm đă được cấp bằng khác nhau như thế nào nên cứ
cho đều là hàng tốt, đáng tin cậy. Thực chất có sản phẩm đăng kư
nhưng không được cấp bằng v́ nhiều lư do, ví dụ không có tính mới",
Giám đốc một công ty sản xuất linh kiện xe gắn máy tại quận Tân B́nh
nói.
Trả lời VnExpress sáng nay, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Hoàng
Văn Tân thừa nhận thời gian xem xét cấp bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ
cho cả nội dung và h́nh thức hiện nay kéo dài khoảng 1 năm. Tuy
nhiên ông Tân cho rằng: "Thủ tục đăng kư sở hữu trí tuệ của Việt Nam
đang theo đúng thông lệ quốc tế và đă được đơn giản hóa theo hướng
tối ưu". Theo ông, 1 năm là khoảng thời gian cần thiết để Cục xem
xét, kiểm tra, thẩm định sản phẩm trước khi quyết định cấp bằng. Chỉ
đến khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực vào ngày 1/7/2006 th́ mới
rút ngắn thời gian cấp bằng kể từ thời điểm nộp hồ sơ xuống c̣n 6
tháng.
Ông Tân khẳng định, việc một số doanh nghiệp lợi dụng chi tiết "sản
phẩm đă được đăng kư" trong quảng cáo, cung cấp thông tin cho người
tiêu dùng là không minh bạch. "Chỉ có sản phẩm đă được cấp bằng độc
quyền kiểu dáng, nhăn hiệu mới được Nhà nước bảo hộ và bảo vệ quyền
lợi", ông Tân nhấn mạnh.
Phó Cục trưởng cho biết, tỷ lệ doanh nghiệp đăng kư bảo hộ sở hữu
trí tuệ trong năm nay tăng cao so với năm trước. 6 tháng đầu năm, số
đơn đăng kư độc quyền kiểu dáng công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ
đă tăng 64% so với cùng kỳ năm trước, đơn đăng kư bảo hộ nhăn hiệu
tăng 48%. "Tuy nhiên số đơn này đến năm sau mới được xem xét xong,
nên tỷ lệ được cấp bằng vẫn chưa xác định", ông Tân nói.
Phan Anh thực hiện
2. Tiếp vụ xử lư vi phạm kiểu dáng Honda tại Vĩnh Long: T&T vẫn chỉ
là “nghi phạm”?
Trong các bài trước, DĐDN đă thông tin xung quanh . Liên quan tới
vấn đề này, mới đây, Chi cục QLTT tỉnh Vĩnh Long đă có cuộc gặp với
báo chí, đại diện pháp lư của Honda, đại diện của UBND tỉnh và tiến
hành các biện pháp xử lư tại một số cửa hàng bán xe gắn máy “có vi
phạm”.
Theo ông Phan Tứ Phương - Chi cục phó QLTT th́ đối với việc kiểm tra
vi phạm SHCN trên địa bàn thời gian trước đây, do sự "am hiểu" của
nhiều người kinh doanh về vấn đề này quá yếu nên chi cục đă có những
chương tŕnh tuyên truyền đến các DN, các hộ kinh doanh, các cửa
hàng trên toàn tỉnh. Không những thế, trong khoảng 1 năm, chi cục
c̣n không tiến hành kiểm tra vi phạm, nhằm "tạo điều kiện" cho các
hộ kinh doanh, các cửa hàng bán hết xe vi phạm? Phải chăng, chi cục
biết vi phạm mà vẫn mặc kệ?
Lúc tạo điều kiện, lúc bắt gắt gao?
Tuy nhiên, từ đầu năm 2005 đến nay, nhất là vào tháng 9/2005, Chi
cục đă tiến hành kiểm tra gắt gao vi phạm về SHCN trên toàn tỉnh
nhưng khi hỏi trên địa bàn có bao nhiêu cửa hàng bán xe gắn máy th́
không một thành viên nào của QLTT Vĩnh Long trả lời được. Ông Phan
Tứ Phương chỉ cho biết việc kiểm tra được tiến hành tại 21 của hàng
và 17 cửa hàng có phát hiện vi phạm với số lượng xe vi phạm gồm 162
xe, trong đó vi phạm về kiểu dáng giống, trùng lắp với xe Wave Alpha
chiếm nhiều nhất với 136 chiếc. Số c̣n lại vi phạm kiểu dáng của xe
Future II nhưng chưa rơ ràng. Trong đó, vi phạm nhiều nhất là loại
xe Noble của Cty T&T tại 4 cửa hàng với số lượng 45 chiếc. Ông
Phương cho biết thêm, sở dĩ có cuộc họp hôm nay v́ Cty T&T khiếu
nại, đối với các cửa hàng vi phạm khác không có vấn đề ǵ v́ họ
không hề có khiếu nại. Tuy nhiên, khi đặt vấn đề những cửa hàng khác
vi phạm kiểu dáng ǵ, các loại xe đó do các đơn vị nào sản xuất, lắp
ráp th́ ông Phương không trả lời được, chỉ khẳng định các loại xe vi
phạm đó do các cửa hàng tự đưa phụ từng, sản phẩm, chủ yếu là các
chi tiết nhựa lắp vào thay thế (lắp ráp thêm ngoài chứ các đơn vị
sản xuất, cung cấp hàng không vi phạm). QLTT không hề cung cấp bất
cứ một biên bản nào liên quan đến các cửa hàng khác, ngoại trừ một
số xe của T&T. Tại sao?
Khi khẳng định vi phạm, khi bảo không?
Tại cuộc họp, ban đầu ông Nguyễn Phúc Xinh - Chi cục trưởng QLTT
khẳng định Cty T&T vi phạm 100%. Nhưng khi bị chất vấn tại sao lại
khẳng định như vậy ông Xinh cho rằng đă điều tra và các cửa hàng đều
lấy hàng 100% từ Cty T&T mà không có việc tráo đổi bên ngoài (tự
tráo đổi) và QLTT tỉnh Vĩnh Long đề nghị xử lư tiếp tục đối với Cty
T&T bằng cách mời đại diện của Cty đến làm việc, bổ sung hồ sơ? Đề
nghị UBND tỉnh và chuyển Cục QLTT xử lư. Tuy nhiên, đến cuối buổi
làm việc ông Xinh lại khẳng định là việc Cty T&T có vi phạm hay
không, có sản xuất, cung ứng sản phẩm vi phạm hay không chưa rơ mà
c̣n phải tiếp tục điều tra.
Thực tế nhăn hiệu và kiểu dáng xe Noble của Cty T&T đă được Cục SHTT
cấp bằng bảo hộ. Ngay cả chính đại diện pháp lư của Cty Honda là Cty
Phạm và liên danh cũng khẳng định thực tế T&T có loại xe Noble thật,
đă đăng kư tại SHTT và loại xe đó không vi phạm kiểu dáng của xe
Wave Alpha nhưng tất cả các xe bị QLTT Vĩnh Long tạm giữ lại vi phạm
và việc xử lư lần này là xe Noble có vi phạm? Đại diện pháp lư của
Honda cũng cho biết hiện Thanh tra Bộ KH - CN đang tiến hành kiểm
tra các đơn vị sản xuất các chi tiết nhựa cho xe Noble.
Một vấn đề khác là việc vi phạm là vi phạm kiểu dáng tổng thể xe
Wave Alpha nhưng chủ yếu là các chi tiết nhựa như ốp sườn, mặt nạ,
chắn bùn, đèn sau... nhưng khi đối chiếu giữa hai loại xe Noble bị
vi phạm và xe Wave Alpha thật th́ hầu hết các chi tiết nhựa cụ thể
này đều có sự khác biệt. Mặt khác, xe Wave Alpha không được bảo hộ
chi tiết và QLTT cho là vi phạm kiểu dáng tổng thể th́ tại sao chỉ
xử lư phần nhựa mà không xử lư toàn bộ xe? Điều quan trọng hơn, việc
thẩm định sự vi phạm không có mẫu thực mà QLTT chỉ chụp ảnh rồi gửi
về Cục SHTT. Điều này không thể đủ căn cứ để khẳng định sản phẩm
Noble có vi phạm hay không? Mặt khác, cho đến thời điểm hiện tại vẫn
chưa có đầy đủ các căn cứ để khẳng định loại xe Noble do T&T sản
xuất, lắp ráp là vi phạm kiểu dáng công nghiệp. Toàn bộ những thông
tin về Cty T&T, QLTT tỉnh Vĩnh Long chưa có chứ chưa nói ǵ đến các
giấy tờ, văn bản liên quan đến kiểu dáng, nhăn hiệu của công ty. Vậy
lấy cơ sở ǵ để khẳng định Cty T&T vi phạm?
Cty T&T cho biết sẽ vẫn tiếp tục khiếu nại và vụ việc cần sớm được
các cơ quan chức năng làm rơ, tránh thiệt hại về uy tín cho cả DN
lẫn nhà quản lư.
Linh Anh thực hiện
3. Kiểu dáng Công nghiệp: Vấn đề của thời đại
Cuộc sống của nhân loại, từ khởi thủy đến nay luôn luôn vận động
không ngừng, đổi thay để phát triển. Mọi hoạt động của con người từ
ăn, mặc, đi đứng đến công việc, môi trường làm việc cho đến tận
giường ngủ... đều có sự tham gia của kiểu dáng và kiểu dáng công
nghiệp. Có thể nói, kiểu dáng và kiểu dáng công nghiệp bao trùm toàn
bộ cuộc sống nhân loại, phục vụ ngày một tốt hơn, tiện ích hơn, hoàn
hảo và đẹp hơn cho cuộc sống...
Đặc biệt, trong cuộc sống hiện đại, trong thời kinh tế thị trường
đ̣i hỏi sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại; th́ vấn đề kiểu dáng càng
được chú trọng hơn bao giờ hết.
Từ thuở xa xưa, khi con người mới biết sử dụng đồ đá, đồ đồng làm
công cụ; họ đă biết gọt đẽo, chế tác thế nào cho phù hợp, cho thuận
tiện để săn bắn và hái lượm... Kiểu dáng ra đời một cách thật tự
nhiên, vô thức. Cái khố đóng trên cơ thể cũng được chọn lựa, tạo nên
những tấm khố đẹp, cầu kỳ... kiểu dáng về trang phục cũng khởi nguồn
từ đó rất hồn nhiên và mang tính bản năng.
Cuộc sống càng phát triển cao hơn, thẩm mỹ, nhận thức của con người
càng cao, th́ kiểu dáng đa dạng và phong phú ngày càng tham gia tích
cực vào cuộc sống con người. Một cái chơng tre, một bộ ấm chén, nồi
niêu bằng đất cho đến một mái nhà, ngôi đ́nh; trong chiếc áo the,
giải yếm lụa... đều phải làm thế nào cho đẹp, cho bền...
Không phải đến những năm gần đây, nhất là khi đất nước chuyển ḿnh
trong công cuộc đổi mới, kinh tế thị trường phát triển, vấn đề kiểu
dáng - kiểu dáng công nghiệp mới được đề cập đến. Vấn đề này lúc nào
cũng tồn tại trong cuộc sống, cùng thời đại.
Vai tṛ của kiểu dáng và kiểu dáng công nghiệp rất quan trọng, nhiều
khi là vấn đề sống c̣n của một ngành, một sản phẩm. Chỉ có con người
(do hạn chế của thời đại, nhận thức... hoặc trong một giai đoạn nào
đấy) mới coi nhẹ và sao nhăng vấn đề này. Đất nước trong mấy chục
năm chiến tranh, nền kinh tế bao cấp; thiếu thốn đủ thứ nên vai tṛ
của kiểu dáng, hay kiểu dáng công nghiệp rất mờ nhạt. Mọi sản phẩm
làm ra hầu như không được đầu tư làm thế nào cho đẹp, cho tiện; mà
chỉ miễn sao có sản phẩm phục vụ được mục đích sử dụng. Cái quạt th́
làm sao tạo ra được nhiều gió, máy móc cốt sao chạy được, có đôi
giày hoặc dép miễn là khỏi phải đi đất... Vấn đề chất lượng sản phẩm
tuy cũng đă được đặt ra, nhưng chưa được chú trọng đúng mức.
Cuộc sống luôn vận động và phát triển. Chính sự vận động và phát
triển đó đ̣i hỏi phải tạo ra những sản phẩm có kiểu dáng đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của cuộc sống con người. Trong thời đại hôm nay,
trước sự lựa chọn quá phong phú của các sản phẩm; người ta phải đắn
đo, cân nhắc; và sự lựa chọn cuối cùng bao giờ cũng quay về tiêu
chí: Chất lượng và mẫu mă. Nói một cách khác: Chất lượng và kiểu
dáng.
Một sản phẩm dù có tốt, có bền đến đâu mà kiểu dáng không đẹp, không
phù hợp với thị hiếu, thị trường th́ sản phẩm đó cũng khó được chấp
nhận. Ngược lại, một sản phẩm có kiểu dáng đẹp, có thẩm mỹ nhưng kém
về chất lượng cũng không là sự lựa chọn cuối cùng. V́ thế, kiểu dáng
phải luôn luôn song hành cùng chất lượng.
Trong công nghiệp, từ những sản phẩm lớn của công nghiệp như máy
bay, ô tô, tàu thủy... quá tŕnh phát triển cũng là quá tŕnh mỗi
ngày mỗi hoàn thiện hơn về kiểu dáng và chất lượng. Nổi bật nhất là
công nghiệp chế tạo ô tô, hiện nay trên thế giới (ở những quốc gia
có ngành công nghiệp ô tô phát triển), hầu như không tuần nào không
có một kiểu ô tô mới được ra đời. Ngay máy móc phục vụ cho các ngành
công nghiệp khai thác, chế biến cũng đ̣i hỏi kiểu dáng phải đẹp, hài
ḥa và tiện lợi.
Đặc biệt nhất, đ̣i hỏi nhiều nhất trong cuộc sống thuộc về các lĩnh
vực công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng từ cao cấp đến b́nh dân; từ
những dàn máy vi tính, ti vi, hàng điện tử... cho đến nồi cơm điện,
chiếc bút bi...
Những năm gần đây, nền công nghiệp nước ta đứng trước thử thách lớn
của cuộc sống. Nếu chúng ta không ư thức được sự vận động để tồn tại
và phát triển, nếu chúng ta tự bằng ḷng với những ǵ ta đă có; chắc
chắn chúng ta sẽ bị tụt hậu, chúng ta sẽ thua ngay chính trên sân
nhà; để cho các sản phẩm công nghiệp nước ngoài tốt hơn, đẹp hơn, rẻ
hơn chiếm lĩnh thị trường. Đường lối phát triển kinh tế đă được
Đảng, Nhà nước chỉ ra: đó là tiến hành CNH, HĐH. Từ tư tưởng chỉ đạo
đó, ngành công nghiệp nói riêng, đất nước ta nói chung phải ra sức
phấn đấu đưa nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại vào năm 2020. Muốn vậy, chúng ta phải ư thức sâu sắc, nhận
thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề kiểu dáng - kiểu dáng công
nghiệp, bên cạnh vấn đề chất lượng sản phẩm. Hy vọng trong tương lai
gần, cụm từ: Made in Vietnam xuất hiện ở hầu khắp các thị trường
quốc tế và là sự lựa chọn ưa thích của khách hàng.
Hoàn toàn có lư khi chúng ta khẳng định: Kiểu dáng - kiểu dáng công
nghiệp là vấn đề của thời đại; bởi, nếu không phù hợp với thời đại,
th́ mọi sản phẩm của nền kinh tế sẽ không được chấp nhận.
Để mọi sản phẩm mang nhăn hiệu Made in Vietnam được ưa chuộng, ngay
từ bây giờ, có lẽ đă là muộn, ngành Công nghiệp Việt Nam cần có
những h́nh thức tham khảo, tham vấn, tổ chức đào tạo mang tính
chuyên nghiệp, chính quy về vấn đề này./.
Hoàng Gia thực hiện
Nguồn tin lấy từ : http:// irv.moi.gov.vn
4. Xe gắn máy “dỏm”: Mức xử lư nhẹ, vi phạm tràn lan
Tại Hội thảo "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xe máy". Sở
Khoa học & Công nghệ Tp. Hồ Chí Minh tổ chức, sáng 25/11, đại diện
hăng Honda cho biết: Trong năm 2005, có 63 vụ vi phạm phát hiện ở
các tỉnh, thành, với số tiền phạt 485.500.000đ.
Thủ đoạn mà các đối tượng sản xuất, kinh doanh hàng giả áp dụng phổ
biến hiện nay là: Sản xuất phụ tùng giả, vô bao b́ có in nhăn
"Honda", xuất xứ Nhật, Thái Lan… rồi đi tiêu thụ; phụ tùng giả đưa
từ nước ngoài về; nhăn giả in sẵn số lượng lớn bán theo yêu cầu của
người kinh doanh. Vi phạm kiểu dáng công nghiệp nhiều nhất là các
loại xe Wave, Yamaha, Future, Honda…
Ông Trần Việt Hùng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng: "Để
đảm bảo không xảy ra t́nh trạng vi phạm pháp luật và tranh chấp về
sở hữu công nghiệp, doanh nghiệp cần kiểm tra t́nh trạng pháp lư về
các đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) như: Nhăn hiệu hàng hóa,
kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích… liên quan đến xe
máy, động cơ và phụ tùng xe máy ngay từ khâu chuẩn bị.
Các doanh nghiệp có thể tự tra cứu các nguồn thông tin về các đối
tượng SHCN bảo hộ ở Việt Nam được công bố trên công báo SHCN, hoặc
ghi nhận trong đăng bạ về SHCN để biết các đối tượng SHCN liên quan
đến linh kiện và sản phẩm lắp ráp của ḿnh có được bảo hộ hay không"
5. Thế hệ iPod” ở Mỹ
Dù chỉ mới xuất hiện được vài năm, thiết bị nghe nhạc số cầm tay
iPod đă nhanh chóng trở thành biểu tượng của một thế hệ muốn giải
trí mọi lúc mọi nơi, tác động không nhỏ đến ngành công nghiệp giải
trí nước này
iPod, một thiết bị nghe nhạc số cầm tay của hăng Apple (Mỹ) có khả
năng lưu trữ đến 10.000 bài hát, đang trở thành món hàng điện tử
không thể thiếu trong mùa mua sắm ở Mỹ, mang lại một thay đổi trong
hành vi của người tiêu dùng trong ngành công nghiệp giải trí. Jerrod
Hofferth, một sinh viên ngành khoa học không gian 20 tuổi, là đại
diện tiêu biểu cho một thế hệ iPod ở Mỹ. Cậu nói: “Đi đâu, tôi cũng
bỏ chiếc điện thoại di động bên túi quần trái, máy Palm Pilot bên
túi quần phải và đeo iPod trên dây nịt. Mẹ tôi, em tôi và bạn gái
tôi, người nào cũng có một cái iPod”.
Được tung ra thị trường vào năm 2001 nhưng măi đến năm 2004 iPod mới
trở thành một thế lực trong ngành công nghiệp giải trí, với doanh số
gia tăng chóng mặt. iPod không phải là máy nghe nhạc số đầu tiên
nhưng Apple đă thành công trong việc thiết kế kiểu dáng bắt mắt và
dễ sử dụng, biến nó thành biểu tượng của một thế hệ muốn tiếp cận
mọi lúc mọi nơi với thông tin, liên lạc và giải trí. Về mặt kinh
doanh, iPod thật sự mang lại một luồng sinh khí mới cho Apple. Chỉ
tính riêng trong 3 tháng cuối năm 2004, iPod góp phần giúp lợi nhuận
của Apple đạt 295 triệu USD, tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ năm
trước. Giá cổ phiếu của Apple trong năm 2004 cũng tăng gấp 3 lần.
Trong nỗ lực tiếp tục giữ vững vị thế của ḿnh trong thị trường nhạc
số, đích thân chủ tịch Steve Jobs của Apple đă giới thiệu 2 phiên
bản iPod có kích thước nhỏ hơn và giá rẻ hơn hôm 11-1-2005. V́ thế,
bất chấp sự cạnh tranh của nhiều đối thủ, các nhà phân tích tin rằng
iPod vẫn c̣n đủ sức thống trị thị trường này trong năm 2005 và sau
đó. Theo dự báo, sẽ có từ 10 triệu đến 12 triệu máy iPod được bán ra
trong năm 2005.
Khác với những sản phẩm công nghệ khác, như đầu DVD, iPod không chỉ
đơn thuần là một thiết bị có chứa các microchip và phần mềm bên
trong. Những người sở hữu iPod trở nên thân thiết hơn, thậm chí đặt
cho nó những tên riêng như PankyPod, Smeagol... Ngoài ra, iPod không
chỉ được dùng để nghe nhạc. Trường Đại học Duke (Mỹ) cho sinh viên
mới một máy iPod có chứa tài liệu hướng dẫn và thời khóa biểu học
tập. Trong khi đó, các bác sĩ X-quang tại Đại học California ở Los
Angeles (Mỹ) dùng iPod để chứa những h́nh ảnh y khoa của ḿnh. Ông
Micheal Bull, một giảng viên đại học người Anh, đánh giá iPod là
biểu tượng văn hóa đầu tiên của thế kỷ 21. Vị giảng viên này, c̣n
được biết đến như là “giảng viên iPod” v́ bỏ thời gian nghiên cứu
các thiết bị nghe nhạc cầm tay trong hơn 10 năm qua, nói: “iPod thật
sự không chỉ là một sở thích nhất thời mà là khởi đầu của một h́nh
thức nghe nhạc mới”.
Các thiết bị nghe nhạc cầm tay như iPod đang tạo ra một sở thích mới
trên Internet trong giới trẻ Mỹ, gọi là “podcasting”, trong đó các
cá nhân trở thành những đài phát thanh cá nhân bằng cách tạo những
nội dung âm nhạc của riêng họ và đưa lên Internet để người khác tải
về máy nghe nhạc MP3 của họ. Chính tính năng nghe nhạc theo danh
sách bài hát ưa thích là một trong những nguyên nhân khiến ngày càng
có nhiều người từ bỏ thói quen nghe đài phát thanh để chuyển sang sử
dụng thiết bị nghe nhạc số cầm tay. Theo một cuộc khảo sát mới ở Mỹ,
những người trong độ tuổi từ 12 đến 24 nghe đài phát thanh trung
b́nh 2 tiếng 25 phút mỗi ngày vào đầu năm 2004. Đến tháng 9 cùng
năm, khoảng thời gian trên đă giảm xuống c̣n khoảng 2 giờ trong khi
thời gian nghe nhạc từ những nguồn khác, như máy nghe nhạc MP3, máy
hát CD..., tăng lên trung b́nh nửa giờ mỗi ngày
6. Đưa dừa, lục b́nh... xuất ngoại
Những chiếc gạt tàn nho nhỏ, những chú khỉ đội nón lá mắt tṛn xoe
ngồi ôm chú cá nhỏ trong ḷng, những lọ hoa trang trí mang mầu sắc
Tây Nguyên… tất cả đều được làm từ những quả dừa vốn là đặc sản ở
vùng đất này. Và từ cái xứ Bến Tre, chúng lên đường sang tận Hàn
Quốc, Nhật Bản.
• Liệu… liều
Thời kỳ 1988-1989, thị trường Đông Âu khủng hoảng, chiếu làm ra chất
đống không ai mua. T́nh h́nh ế ẩm kéo dài đến năm 1992. Ông Phạm Văn
Liệu, khi đó là chủ cơ sở dệt chiếu, thiếu nợ bốn chục lượng vàng.
Vợ khóc ṛng, khuyên ông: "Anh coi cơ sở c̣n tài sản ǵ, bán hết.
Cộng thêm mấy công đất vườn, chắc cũng trả gần hết nợ". Thực ra,
trước đó ông Liệu đă cảm thấy bất an với chuyện sản xuất. Hàng xuất
sang Liên Xô (cũ), cả tháng sau mới nhận tiền. Có chuyến, chất lượng
không đạt bị trả về, phải chạy đôn chạy đáo đến các tỉnh mà bán đổ
bán tháo. Tiền lời không bao nhiêu nhưng phải trả lăi vay mười phân
(10%).
"Nhưng bán cơ sở để trở lại làm ông thợ mộc, tối về lụi hụi bẻ dừa
đem bán, không khéo tối trời dừa rụng trúng đầu, toi mạng có ngày.
Rồi vợ lại phải gặt lúa mướn, cắt cỏ đổi gạo qua ngày". Nghĩ vậy,
ông Liệu nhất quyết không bỏ cơ sở. Ông đến ngân hàng, đưa cán bộ về
xem thực tế của cơ sở. "Khó khăn là do thị trường biến động ngoài dự
tính chứ không phải tôi không biết làm ăn", ông nói và rồi ông cũng
thuyết phục được ngân hàng cho khoanh nợ.
C̣n giấy tờ đất vườn chưa thế chấp, ông chạy được mớ vốn. Suốt cả
tháng, ông có mặt ở TP HCM… 29 ngày. Ông tính sẵn: "Xứ này dừa bạt
ngàn. Nghe nói, hàng thảm lác, chiếu ca rô, rồi cả hàng thủ công mỹ
nghệ từ dừa như thảm xơ dừa… của một cơ sở trên TP Hồ Chí Minh bán
coi bộ được lắm". Cưỡi chiếc Honda Dame cũ mèm, ông ghé hết cửa hàng
này đến cửa hàng khác xem hàng. Rồi ông t́m đến nơi sản xuất, nài nỉ
xin coi người ta làm.
Thức thâu đêm suốt hai, ba tháng trời, một hôm ông tuyên bố: "Học
lóm nghề được rồi". Chạy vạy nhờ người thân làm ở một tổng công ty
xuất khẩu chào hàng thử. Ai dè, khách nước ngoài gật đầu, kư hợp
đồng cái rẹt. Tiếp đó, năm 1995, Quỹ xóa đói giảm nghèo xem xét cho
cơ sở vay 45 triệu đồng. Ông Liệu đổi đời. Nợ thiếu hồi năm 1992 dần
dà cũng trả hết.
• Từ dừa đến lục b́nh
Từ những sản phẩm đơn giản, những tấm thảm xơ dừa có hoa văn đường
nét tinh xảo, những b́nh hoa trang trí… làm từ nguyên liệu thân,
trái, gáo dừa… được cơ sở của ông Liệu cho ra đời hàng loạt. Hàng
đắt như tôm tươi. Có khi, ông chủ và hàng chục công nhân phải thức
trắng cả tuần để kịp giao hàng.
Nghề dạy nghề. Bất cứ kiểu dáng nào khách yêu cầu, ông cũng mày ṃ
làm được. Có lúc gặp kiểu "hóc" quá, vợ kêu thôi. Ông lầm ĺ, "tuyệt
khẩu" với vợ, làm xong mới thôi. "Vậy mà cuối cùng, kiểu dáng nào
cũng làm được. Chính tôi nhiều khi c̣n không hiểu v́ sao lúc đó ḿnh
t́m ra được cách đan mấy chỗ khó, lách mấy chỗ cầu kỳ. Chắc tại chịu
khó, trời thương" - ông cười kh́.
Bốn năm trước, một công ty xuất khẩu dọ hỏi: làm hàng xuất khẩu từ
nguyên liệu lục b́nh được không? Gật đầu, ông Liệu yêu cầu họ gửi
hàng mẫu, kèm h́nh ảnh kiểu dáng. "Họ chỉ cắt gửi một miếng nhỏ làm
mẫu, chứ không gửi toàn bộ món hàng thành phẩm". Nhưng cũng như
nhiều lần "đột phá" trước đó, ông lại mày ṃ, t́m cách đan lục b́nh
khô cho giống.
"Mười một ki-lô-gam lục b́nh tươi thu được một ki-lô-gam lục b́nh
khô, giá mua hiện giờ là 5.500 đồng/kg"- ông hể hả. Cái vui của ông
là giúp nông dân có thêm thu nhập từ những thứ lâu nay bị xem là "rẻ
như bèo", đầy rẫy vùng sông nước ĐBSCL này. "Chúng tôi rất chú trọng
đến việc quảng bá sản phẩm, như năm 2003 chúng tôi bỏ tiền tham dự
hội chợ ở Nhật Bản. Đợt đó, kư được hợp đồng hơn 3.000 đô-la Mỹ.
Không nhiều, cái chính là tạo được sự chú ư".
Năm 1997, cơ sở thoát được cảnh xuất khẩu qua trung gian. Năm 2003,
Doanh nghiệp tư nhân Thanh B́nh chính thức trở thành Công ty TNHH
Thanh B́nh, trụ sở tại xă An Hiệp, huyện Châu Thành. Và giờ, công ty
luôn sẵn sàng hơn 100 mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, lác, lục
b́nh… cho khách chọn lựa. "Hàn Quốc, Nhật Bản và Thụy Điển là ba thị
trường lớn của công ty" - ông nói.
Năm 2003, công ty đạt doanh số 3,35 tỷ đồng và 803.000 đô-la Mỹ. C̣n
chín tháng đầu năm, doanh số đă tương đương cả năm 2003. Từ một cơ
sở nhỏ vài chục công nhân, công ty hiện có gần 2.000 lao động, chưa
kể tạo thu nhập cho hàng loạt vệ tinh sản xuất và mua nguyên liệu
trong, ngoài tỉnh
7.
Doanh nghiệp Duy Lợi: Tự vệ thành công trên đất Mỹ
355 ngày sau hành tŕnh khởi kiện đầy cam go để bảo vệ kiểu dáng
vơng xếp của ḿnh tại Mỹ, ông Lâm Tấn Lợi - Giám đốc DNTN Duy Lợi đă
nở nụ cười chiến thắng khi nhận được phán quyết của Cơ quan Sáng chế
và nhăn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), với nội dung hủy bỏ văn bằng bảo hộ của
ông Chung Sen Wu (Đài Loan), người bị ông Lợi khởi kiện v́ đă "sao
chép" lại khung vơng xếp Duy Lợi.
Cách đây 2 năm, ông Lâm Tấn Lợi đă thành công sau 5 tháng theo đuổi
vụ kiện một doanh nhân người Nhật là ông John Miki xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp "khung vơng xếp". Giữa tháng 3.2004, Văn pḥng Luật
sư Phạm và Liên Danh (P&LD) - cơ quan đại diện cho quyền lợi của ông
Lâm Tấn Lợi - lại phát hiện trên một trang web (có xuất xứ từ Mỹ)
giới thiệu một loại khung vơng gấp giống y hệt khung vơng kiểu 1 của
Duy Lợi (đă được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp tại Việt
Nam). Khung vơng xếp này của ông Chung Sen Wu (Đài Loan) đă được
USPTO cấp Bằng sáng chế độc quyền (BSCĐQ) ngày 22.10.2002. Điều này
có nghĩa bất cứ loại vơng xếp nào có kiểu dáng tương tự sẽ bị ngăn
chặn ngay nếu muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ. Hành tŕnh tự vệ của
Duy Lợi bắt đầu...
Tháng 5.2004, P&LD đă tiến hành các bước cần thiết để yêu cầu USPTO
hủy hiệu lực BSCĐQ đă cấp cho ông Wu do ngày nộp đơn của ông Wu
(15.8.2001) muộn hơn ngày công bố của đơn xin cấp bằng kiểu dáng
công nghiệp đối với khung vơng xếp của ông Lợi hơn 1 năm. Luật sư
Dương Tử Giang thuộc Văn pḥng P&LD nhớ lại: "Do bản công bố trong
Công báo Việt Nam có chất lượng không cao nên không thể nh́n thấy rơ
một số chi tiết của khung vơng Duy Lợi. Chính v́ vậy, để có thể yêu
cầu hủy BSCĐQ do USPTO cấp cho ông Chung Sen Wu, Văn pḥng P&LD phải
tiến hành tra cứu trong các cơ sở dữ liệu, nghiên cứu hàng ngàn kiểu
khung vơng khác nhau trên thế giới để t́m bằng chứng nhằm chứng minh
rơ ràng rằng kiểu khung vơng do ông Chung Sen Wu đăng kư thực chất
là sao chép khung vơng Duy Lợi". Ngày 29.9.2004, thay mặt Duy Lợi,
P&LD đă nộp đơn tới USPTO yêu cầu hủy BSCĐQ đă cấp cho ông Wu với lư
do là "Bằng kiểu dáng Việt Nam có ngày công bố sớm hơn ngày nộp đơn
của ông Wu và điều này đă hoàn toàn không được xem xét trước khi cấp
BSCĐQ cho ông Wu".
Gần 3 tháng sau, ngày 14.12.2004, USPTO đă ra thông báo chấp nhận
xem xét lại BSCĐQ đă cấp cho ông Wu. Theo USPTO, có cơ sở để cho
rằng Bằng kiểu dáng Việt Nam đă được cấp cho ông Lâm Tấn Lợi có thể
"làm nảy sinh một vấn đề mới về bản chất đối với khả năng bảo hộ"
đối với BSCĐQ đă được cấp tại Mỹ. Và USPTO cũng ấn định trong ṿng 2
tháng (tức là phải trước ngày 14.2.2005) ông Wu có quyền có ư kiến
bảo vệ BSCĐQ đă được cấp cho ḿnh. Nếu ông Wu không có ư kiến ǵ th́
USPTO sẽ đưa ra phán quyết. Sau một thời gian giám định tỉ mỉ những
chi tiết liên quan đến loại khung vơng xếp của cả hai bên và rà soát
lại các thủ tục cần thiết, giám định viên Matthew C.Graham thuộc
USPTO đă có biên bản tái xét lại khung vơng xếp và kết luận về việc
xâm phạm kiểu dáng công nghiệp của ông Wu đối với khung vơng xếp Duy
Lợi. Ngày 19.9.2005, USPTO đă công bố phán quyết hủy bỏ yêu cầu bảo
hộ đối với khung vơng xếp của ông Chung Sen Wu.
Theo luật sư Dương Tử Giang, chiến thắng của Duy Lợi là tiền lệ tốt
cho thương hiệu Việt khi bị xâm phạm quyền sở hữu ở nước ngoài.
Trần Thanh B́nh thực hiện |