|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 18
(Tuần từ
28/11/2005-04/12/2005)
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng
kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
1. Ngành sản xuất chất giặt rửa
Hàng nội mất thế -
v́ sao?
Chi phí quảng cáo quá ít
so với các công ty liên doanh, trong khi giá bán không thấp hơn
nhiều so với sản phẩm của các công ty liên doanh và những hạn chế về
thiết bị, công nghệ cũng như cơ chế đối với các đại lư chưa thoáng,
kinh nghiệm làm thị trường chưa cao…. đang là những lư do khiến cho
các sản phẩm giặt rửa mang thương hiệu nội dần dần mất thế.
Các sản phẩm giặt tẩy thương hiệu ngoại ngày càng chiếm ưu thế.
Dạo quanh thị trường chất giặt tẩy những năm gần đây, người ta thấy
các thương hiệu nội dần dần vắng bóng. Trên các quầy sạp tạp hóa và
đặc biệt là ở các siêu thị, chỉ thấy toàn là các sản phẩm mang
thương hiệu ngoại như OMO, Viso, Tide… Điều này khiến cho không ít
người thắc mắc: V́ sao mà hàng nội “chết” nhanh đến vậy?
Thực tế cho thấy, những năm gần đây ngành công nghiệp sản xuất chất
giặt rửa Việt Nam phát triển khá mạnh với nhiều thành phần kinh tế
như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, công ty tư nhân,
công ty TNHH và công ty nhà nước.
Công suất thiết kế của các doanh nghiệp sản xuất chất giặt rửa hiện
đạt khoảng 380.000 tấn/năm (riêng Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đạt
khoảng 180.000 tấn/năm), trong đó bột giặt đạt 240.000 tấn/năm).
Như vậy nếu tính theo b́nh quân đầu người th́ mỗi năm người Việt Nam
tiêu thụ khoảng 5kg chất giặt tẩy/người. Có thể nói, do có nhiều
thành phần kinh tế tham gia, trong đó có các công ty nước ngoài,
công ty liên doanh của các tập đoàn đa quốc gia mạnh về tài chính
nên ngành công nghiệp sản xuất chất giặt rửa Việt Nam hiện đang ở
trong t́nh trạng cạnh tranh gay gắt.
Mặc dù các công ty sản xuất chất giặt rửa nhà nước thuộc Tổng Công
ty Hóa chất Việt Nam có nhiều cố gắng trong cải tiến chất lượng, mẫu
mă bao b́ và quảng cáo tiếp thị… song những năm gần đây vẫn phải
giảm sản lượng do hiệu quả sản xuất kinh doanh bị giảm sút. Thực tế
cho thấy, trong những năm từ 1994 đến 1997, ngành sản xuất chất giặt
rửa của Tổng Công ty Hóa chất liên tục tăng trưởng, nhưng từ năm
1998 đến nay đă giảm sút rơ rệt.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm của ngành chất giặt rửa là
do các dây chuyền lạc hậu, công suất thiết kế nhỏ chỉ từ 5.000 tấn/năm
đến 20.000 tấn/năm lại chưa hoàn toàn tự động hóa các thiết bị máy
móc sản xuất như phối trộn nguyên liệu, phun trộn enzym, hệ thống
cân và đóng gói… nên các sản phẩm chưa ổn định về chất lượng. Trong
khi đó các công ty liên doanh đă cải tiến nâng cấp thiết bị, tăng
công suất, đưa tự động hóa vào sản xuất, do đó sản phẩm của họ đạt
chất lượng cao, ổn định, năng suất lao động tăng và giá thành hạ.
Trong lĩnh vực thị trường và giá cả, hiện tại TCT Hóa chất đă có một
hệ thống mạng lưới tiêu thụ rộng khắp các địa phương trong cả nước,
đă có chính sách đối với các đại lư thông qua các h́nh thức khuyến
mại, hoa hồng, chiết khấu, thưởng… Song so với các công ty liên
doanh, chi phí khuyến mại, hoa hồng của các đơn vị trong nước vẫn
thấp hơn, các chế độ ưu đăi và lợi nhuận không cao, do đó mạng lưới
tiêu thụ bị thu hẹp lại. Hơn nữa chi phí quảng cáo quá ít so với
quảng cáo của các công ty liên doanh, trong khi giá bán không thấp
hơn nhiều so với sản phẩm của các công ty liên doanh (so các sản
phẩm tương đương về chất lượng).
Mặt khác, do c̣n nhiều hạn chế về tài chính nên các cơ chế đối với
đại lư không được rộng răi, kinh nghiệm làm thị trường, quảng cáo
chưa cao, lại thêm thiết bị chưa hiện đại, công nghệ chưa tiên tiến,
nên năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm thấp, cùng với tâm
lư chuộng hàng ngoại của người tiêu dùng đă khiến cho ngành sản xuất
chất tẩy rửa nội địa hiện đang lâm vào t́nh trạng dường như là bế
tắc.
Có thể nói, để phát triển sản xuất, tiến tới hội nhập với thị trường
trong nước và thế giới, ngành sản xuất chất tẩy rửa cần phải có các
giải pháp đầu tư vào công tác đào tạo nhân lực, đào tạo con người có
tŕnh độ quản lư, tŕnh độ khoa học công nghệ để điều hành và phát
triển ngành sản xuất chất tẩy rửa.
Bên cạnh đó, cần phải tập trung đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ,
nâng cấp và tự động hóa trang thiết bị sản xuất để nâng cao chất
lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động và hạ giá thành th́ mới hy
vọng có được vị trí trong thị trường. Nếu ngành sản xuất chất giặt
tẩy Việt Nam biết kết hợp tốt giữa việc nâng chất lượng, tạo được
mùi thơm đặc trưng của từng sản phẩm, chú trọng đầu tư tập trung vào
một số nhăn mác có uy tín và tăng cường tập trung quảng cáo, tiếp
thị… th́ chắc chắn chiếm được cảm t́nh của người tiêu dùng, gia tăng
sản lượng tiêu thụ và đứng vững trong thời kỳ hội nhập.
Theo SGGP
2. VNPT củng cố thương hiệu
Chiến
lược phát triển thương hiệu trên các phương tiện truyền thông một
cách sâu rộng với khẩu hiệu chính thức: "VNPT - Cuộc sống đích thực"
sẽ được Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam thực hiện từ 1/12
tới.
Theo
một lănh đạo của VNPT, động thái này được coi là những thay đổi tích
cực nhằm cải thiện t́nh trạng thực tế hiện nay, mức độ nhận biết về
thương hiệu của VNPT đối với khách hàng đang ở mức rất thấp so với
tiềm năng và bản chất cần phải có. Đặc biệt là khi VNPT sẽ chính
thức hoạt động theo mô h́nh của một tập đoàn.
Hiện
nay, h́nh ảnh và uy tín thương hiệu VNPT đang có xu hướng bị mờ nhạt,
giảm sút và do quá tŕnh triển khai không thống nhất trên nhiều
phương diện, người tiêu dùng đang tiếp cận với VNPT ở góc độ không
hài ḷng nhiều hơn. Nhiều dịch vụ viễn thông như di động GSM,
Internet MegaVNN, MegaWAN, điện thoại cố định nhiều nơi bị khách
hàng kêu ca v́ có nhu cầu song vẫn chưa được nhà cung cấp dịch vụ
đáp ứng.
Thêm
vào đó, theo ư kiến của ông Bùi Quốc Việt, Giám đốc Trung tâm Thông
tin Bưu điện, việc quảng bá h́nh ảnh thương hiệu của VNPT hiện cũng
c̣n gặp nhiều bất cập, chưa có sự thống nhất, đồng bộ, thiếu tính
chuyên nghiệp...
Nhằm
cải thiện t́nh trạng này, Hội đồng Quản trị VNPT đă ban hành Quyết
định 409/QĐ-GCTT/HĐQT định hướng chiến lược phát triển thương hiệu
VNPT. Nội dung của chiến lược phát triển thương hiệu xác định: VNPT
là tập đoàn số 1 tại Việt Nam về phát triển Bưu chính, Viễn thông và
CNTT.
Theo
kế hoạch, từ 1/12/2005, VNPT sẽ chính thức đưa hệ thống nhận diện
thương hiệu, sử dụng khẩu hiệu (slogan): "VNPT - Cuộc sống đích thực"
vào ứng dụng thực tiễn. Việc tiến hành đăng kư bản quyền, tổ chức
công bố hệ thống nhận diện và hướng dẫn các đơn vị triển khai các
hạng mục quảng bá thương hiệu một cách thống nhất trong cuốn
Guideline đang được gấp rút triển khai. Nếu không có ǵ thay đổi, quư
III/2006 sẽ áp dụng hệ thống bảng hiệu mới đối với tất cả các doanh
nghiệp trong VNPT.
3. WAL- MART, Tính hai mặt của “gă
khổng lồ”
Năm 1950, Sam
Walton mở một siêu thị nhỏ ở Bentonville với triết lư kinh doanh:
“Phải làm đủ mọi cách để bán hàng với giá rẻ nhất!”. 38 năm sau, tức
năm 1988, siêu thị nhỏ bé đầu tiên ấy đă phát triển thành Hệ thống
siêu thị Wal-Mart.
Thêm 14 năm nữa,
năm 2002, với doanh thu 245 tỷ đô la Mỹ, Wal-Mart chính thức lên
ngôi hoàng đế, trở thành công ty phân phối bán lẻ lớn nhất thế giới.
Quy mô của công ty này gấp 3 lần công ty giữ vị trí thứ hai, Công ty
France’s Carrefour. Năm 2003, Wal-Mart có tất cả 8.000 siêu thị và
đạt doanh số 250 tỷ USD. Trị giá của Wal-Mart trên thị trường chứng
khoáng đạt 200 tỷ USD. Năm 2004, Wal-Mart tiếp tục mở thêm 500 cửa
hàng. Số nhân viên của Wal-Mart lên đến 1,4 triệu. Nhưng đằng sau
ánh hào quang đó, hậu trường Wal-Mart rối tung bởi những vụ kiện,
những lời chỉ trích… từ các phía. Cho đến nay, Wal-Mart vẫn tồn tại
hai mặt: Những điều tốt đẹp nhất và những điều tồi tệ nhất.
“Bằng mọi cách phải bán hàng với giá rẻ nhất”
Tại Wal-Mart, khẩu hiệu “giá rẻ mỗi ngày” không c̣n là khẩu hiệu,
hơn thế nữa, đó là h́nh thức chủ yếu để quảng bá thương hiệu, là mũi
nhọn trong cạnh tranh của Công ty. Nhiều năm qua, Wal-Mart không
ngừng thu lợi nhuận hàng chục tỷ đô la từ việc thực hiện dây chuyền
cung ứng bán lẻ và bỏ xa các đối thủ trong vấn đề tiết kiệm tiền cho
khách hàng. Theo đánh giá của cuộc hội thảo vừa diễn ra ở Anh, mỗi
năm Wal-Mart tiết kiệm hơn 20 tỷ USD cho người tiêu dùng Mỹ.
Wal-Mart không đặt mục tiêu biến nước Mỹ thành đất nước của các
trung tâm mua sắm. Nhưng kể từ ngày thành lập đến nay, Wal-Mart
chiếm tới 79% thị trường phân phối bán lẻ những đồ dùng thiết yếu và
thực phẩm. Có đến 1.386 trung tâm mua sắm thuộc Wal-Mart đặt tại Mỹ,
chiếm 19% thị phần toàn quốc. Trên các đường phố, thương hiệu
Wal-Mart nổi trội hơn hẳn so với tất cả các thương hiệu phân phối
bán lẻ khác. Báo cáo mới đây của Tập đoàn Boston Consulting khẳng
định: “Thế giới sẽ chẳng thể t́m được một công ty thứ hai giàu tiềm
năng kinh tế, có mục tiêu rơ ràng và đầy tham vọng như Wal-Mart”.
Tại các siêu thị lớn của Wal-Mart, mọi thứ đều đúng giá hoặc rẻ hơn
bên ngoài. Wal-Mart đáp ứng 30% nhu cầu trong nước về những mặt hàng
gia dụng như bàn chải, kem đánh răng, dầu gội… Theo dự đoán của các
nhà phân tích, con số này sẽ lên đến 50% vào cuối thế kỷ này.
Wal-Mart là nơi cung cấp lớn nhất của Hollywood, chiếm khoảng 15%
đến 20% các mặt hàng băng đĩa (CD, Video, DVD). Lực hút của Wal-Mart
chủ yếu nằm ở giá cả thấp, trong khi chất lượng lại tương đương với
các hệ thống phân phối khác.
Làm thế nào Wal-Mart có thể bán hàng với giá rẻ nhất? Đó là nhờ ở
cách tổ chức hiệu quả, cách quản lư hàng tồn và việc kiểm soát phí
tổn ở mọi khâu trong dây chuyền phân phối hàng hóa. Phương sách ấy
của Wal-Mart đă được đưa vào chương tŕnh giảng dạy của các trường
thương mại từ mấy thập kỷ qua. Nhưng bấy nhiêu đó chưa đủ để làm nên
ưu thế tuyệt đối của Wal-Mart. Công ty này đă kéo tuột giá cả xuống
bằng cách trả lương nhân viên rất thấp và mua hàng từ các nhà cung
cấp với giá rẻ nhất.
Chính giá cả đă đưa
Wal-Mart trở thành nhà độc quyền trong phân phối bán lẻ. Khi mới
xuất hiện, Wal-Mart cũng chỉ là một hệ thống siêu thị b́nh thường
như bao hệ thống siêu thị khác. Nhưng rồi sức hấp dẫn mănh liệt của
giá cả vẫy gọi các khách hàng. Luật sư Harry First của Đại học New
York nói: “Khi Wal-Mart xuất hiện cũng là khi người dân rời bỏ các
khu thương mại khác, bởi họ thích được lựa chọn và mua hàng với giá
rẻ”. Wal- Mart “giật” một lượng lớn khách hàng từ tay các siêu thị
khác. Lợi nhuận tăng, khách hàng tăng, Công ty này càng ngày càng
bành trướng. Cứ một trung tâm mua sắm do Wal-Mart mở ra, sẽ có 2
siêu thị khác phải đóng cửa. Wal-Mart nghiễm nhiên trở thành nhà độc
quyền. Triết lư “Bằng mọi cách phải bán hàng với giá rẻ nhất” trong
buổi b́nh minh của Wal-Mart tồn tại vững chăi cho đến hôm nay.
Gót chân Achille
Chàng khổng lồ Achille trong thần thoại Hy Lạp gần như là một dũng
sĩ bất khả chiến bại. Điểm yếu duy nhất và cũng là điểm yếu có thể
ảnh hưởng đến tính mạng của chàng nằm ở gót chân. Wal-Mart là một
người khổng lồ. Nhưng gă khổng lồ này có những điểm yếu chết người,
cũng như mặt trái sần sùi của một tấm huy chương lấp lánh.
Bộ máy quản lư và vận hành Wal-Mart vướng phải những sai lầm nghiêm
trọng. Nội bộ công ty thiếu thống nhất. Mâu thuẫn giữa các ông chủ
Mỹ và nhân viên không thể điều ḥa được. Theo số liệu thống kê năm
2001, mỗi năm, Wal-Mart bán được 13.816 tỷ USD hàng hóa cho khách
hàng liên đới theo cách truyền thống của Công ty. Trong khi đó,
doanh thu bán hàng trong cả nước là 14.630 tỷ USD. Tiếp tục đẩy mạnh
sức cạnh tranh, Wal-Mart trả thù lao và tiền hoa hồng cho những đại
lư bán lẻ trên khắp 50 khu mua sắm ở Mỹ, khi họ đạt hoặc vượt mức
doanh số bán. Thế nhưng, để làm được điều này, Wal-Mart phải cắt
giảm thu nhập của các nhân viên từ 70% xuống c̣n 45%. Nhân viên tức
giận khi quyền lợi bị ảnh hưởng, khiến công ty luôn phải đốựi mặt
với những cuộc đ́nh công. Đó là chưa kể đến hàng loạt đơn kiện về
việc công ty buộc nhân viên làm việc quá giờ mà không trả lương, một
số trường hợp phân biệt đối xử với phụ nữ và dân cư thuộc tầng lớp
dưới trong xă hội.
Ngày 24 - 9 - 2003, ṭa án liên bang ở California bắt đầu xem xét
những tố cáo của các nguyên đơn. 1,6 triệu phụ nữ đang làm việc cho
Wal-Mart từ cuối năm 1998 cùng khẳng định hệ thống siêu thị này trả
lương họ rất thấp và không cho họ cơ hội thăng tiến. Các ông chủ của
Wal-Mart tranh căi rất quyết liệt về những lời cáo buộc này. Một số
nhà phân tích có phần đứng về phía Wal-Mart khi cho rằng những việc
làm của Wal-Mart không phải là sự lạm dụng sức lao động của nhân
viên, mà chỉ do phân công lao động không hợp lư, gây ảnh hưởng đến
hiệu suất làm việc.
Hiện nay, mức lương trung b́nh của nhân viên thu ngân ở Wal-Mart là
9,7USD/giờ, cao hơn đôi chút so với mức lương tối thiểu ở Pháp (7,19
euro). Các nhân viên mới tuyển dụng ở Wal-Mart không được hưởng bảo
hiểm bệnh tật. Các nhân viên khác phải đóng bảo hiểm cao hơn so với
những công ty cạnh tranh cùng Wal-Mart. Không kham nổi số tiền bảo
hiểm ấy, các nhân viên t́m cách chữa bệnh miễn phí ở các pḥng cấp
cứu và trở thành gánh nặng của một số thành phố. Thế nhưng Wal-Mart
vẫn không chịu cải thiện t́nh h́nh. Mỗi năm, công ty phải ra ṭa
trong 8.000 vụ thưa kiện.
Lập trường của những người lănh đạo Wal-Mart là cấm nhân viên tham
gia Công đoàn. Khi một Giám đốc siêu thị nghe phong phanh về việc
nhân viên chuẩn bị tổ chức Công đoàn, ông ta sẽ báo ngay cho những
người có trách nhiệm ở Bentonville. Vụ việc sẽ bị đưa ra xử lư, thậm
chí Wal-Mart sẵn sàng sa thải nhân viên.
Quy mô của Wal-Mart càng mở rộng, số người phản đối công ty càng
tăng. Trong số đó, có cả những người buôn bán bất động sản, những
người quản lư lao động và cả những nhà cải cách văn hóa chính trị.
Mâu thuẫn nội bộ và mâu thuẫn giữa Wal-Mart với các phía trở thành
hiện tượng xă hội thu hút sự chú ư của nhiều người.
Gặp thác th́ phải vượt
Mối quan hệ giữa Wal-Mart và nhân viên, giữa Wal-Mart và các nhà
hoạt động kinh tế-xă hội c̣n chưa êm thấm, công ty lại vấp phải sự
phản ứng từ chính các nhà cung cấp của ḿnh. Để mua được hàng hóa rẻ,
công ty thường xuyên ép giá các nhà cung ứng. Họ vẫn tiếp tục hợp
tác với Wal-Mart v́ lượng hàng khổng lồ Wal-Mart đặt. Tuy nhiên,
“con giun xéo lắm cũng oằn”, đă đến lúc những nhà sản xuất không thể
chịu nổi sự ép giá của Wal-Mart. ông James A. Wire, Giám đốc điều
hành nhà sản xuất Simplicity khẳng định “Thật sự là Wal-Mart đang
“lái” giá cả đi xuống” và cương quyết ngừng bán máy xén cỏ cho
Wal-Mart. Không ngần ngại, James cảnh báo: “Khi bạn lèo lái giá cả
đi xuống, điều tất yếu sẽ diễn ra là bạn không thể có được sản phẩm
chất lượng cao như mong muốn. Đó là thực tế”.
Chuyện ǵ sẽ xảy ra với Wal-Mart nếu tất cả những nhà sản xuất đều
đồng loạt ngưng cung cấp sản phẩm, hoặc giảm chất lượng, hoặc cương
quyết đ̣i tăng giá? Quả là một ghềnh thác hiểm trở trên cuộc hành
tŕnh của “con thuyền” Wal-Mart. Việc này, Wal-Mart chưa có kế hoạch
giải quyết rốt ráo, nhưng nhà điều hành công ty vẫn hết sức tự tin:
“Không điều ǵ có thể làm Wal-Mart chao đảo. Gặp thác th́ phải vượt,
và sẽ vượt thành công”.
C̣n những lời chỉ trích dành cho Wal-Mart từ nhân viên và các nhà
hoạt động kinh tế-xă hội th́ sao? Ban Giám đốc đang cố tháo gỡ nút
thắt này bằng cách dựa vào lời biện hộ từ phía khách hàng.
Vấn đề thứ ba
Wal-Mart gặp phải là vấn đề hàng tồn kho. Wal-Mart không biết chắc
được lượng hàng hóa tối đa khách hàng cần là bao nhiêu, hoặc lượng
báo chí bao nhiêu th́ đủ. V́ vậy, khi số hàng họ nhập về không tiêu
thụ hết, Wal-Mart sẽ phải đối diện với vấn đề tồn kho. Để giải quyết
lượng hàng tồn này, họ thực hiện các chương tŕnh khuyến măi, các
hội thảo, các cuộc gặp gỡ khách hàng để lắng nghe ư kiến và giải đáp
thắc mắc cho họ. Đồng thời, Wal-Mart thuyết phục rằng ḿnh là nơi lư
tưởng nhất để khách hàng mua sắm.
Tinh thần khắc phục khó khăn là một trong những yếu tố giúp Wal-Mart
trở thành người thống lĩnh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ.
Tương lai tùy thuộc ở ḿnh
Chiến thuật “ra tay chớp nhoáng - đánh nhanh thắng gọn” trong việc
giải quyết hàng tồn, việc bán hàng giá rẻ mà Wal-Mart áp dụng đă đem
lại thành công rực rỡ cho công ty, lợi nhuận công ty tăng liên tục.
Năm 2004, công ty chiếm 35% thị phần thế giới, tăng 10% so với trước
đây. Wal-Mart lên kế hoạch mở rộng hơn 1.000 trung tâm mua sắm nữa
trên khắp nước Mỹ, trong ṿng 5 năm tới. Viễn cảnh của Wal-Mart xem
ra cũng đầy hứa hẹn.
Tuy nhiên, nếu Wal-Mart tiếp tục những bước đi của ḿnh như ép giá
người sản xuất, làm giàu trên sự khó khăn của nhân viên, thành công
đối với họ khó có thể là hằng số. Lời biện hộ của khách hàng không
thể măi là tấm b́nh phong cho họ.
Trong tương lai, liệu ông vua Wal-Mart có giữ vững cái ngai vàng của
ḿnh không? Chỉ có chính Wal-Mart mới đủ khả năng trả lời câu hỏi đó.
Đối với nhiều người, Wal-Mart là biểu tượng cho những cái hay nhất
và tệ hại nhất trong lối làm ăn theo kiểu Mỹ.
Baotangdoanhnghiep.com tổng hợp
4. Nokia N-Gage - "Cái chết của con
thiên nga"
Cuối cùng th́ mọi dự đoán cũng trở thành hiện thực. Nokia đă chính
thức "kết liễu" sinh mạng của đứa con cưng một thời : điện thoại
chơi game N-Gage.
Mới đây, Nhà sản xuất ĐTDĐ số một thế giới đă phải ngậm ngùi tuyên
bố không phát triển các phiên bản mới của điện thoại chơi game
N-Gage nữa, cũng như tạm gác game mobile trong vài năm để toàn tâm
toàn ư tập trung cho điện thoại nghe nhạc và xem video.
Và nếu trước kia, N-Gage được tung hô, quảng bá rầm rộ đến đâu th́
bây giờ, cái chết của nó lại diễn ra một cách im ĺm, lặng lẽ chừng
ấy. Bản thân ngài phó chủ tịch chiến lược tập đoàn Antti Vasara của
Nokia cũng phải thừa nhận N-Gage là một thất bại cay đắng trong việc
khai phá một ḍng sản phẩm mới. "Chúng tôi đă ngộ ra một điều: người
tiêu dùng muốn chơi game trên mọi thiết bị cơ. Đấy là lư do v́ sao
chúng tôi lại tích hợp phần mềm game vào các mẫu điện thoại series
60."
Được phát hành đầu tiên hồi tháng 10/2003, Nokia N-Gage khi ấy thực
sự là một "quả bong bóng" được giới truyền thông bơm căng hết mực.
Nokia đă bắn phá tất cả kênh truyền h́nh, web và tạp chí bằng một
mẫu quảng cáo vô cùng ấn tượng của các skateboarder. Tuy nhiên, rất
nhiều gamer lại cảm thấy khó chịu bởi quảng cáo này, nhất là bởi một
tuyên bố từ người phát ngôn của hăng - cho rằng Game Boys thời buổi
này không c̣n "cool" nữa. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực marketing
cũng đưa ra phản ứng tiêu cực tương tự.
Thế nhưng lư do thực sự khiến N-Gage "ch́m xuồng" như tàu Titanic
nằm ở chính bản thân sản phẩm: cực kỳ đáng thật vọng. Trong phiên
bản đầu tiên, cứ mỗi lần muốn đổi game khác là người chơi lại phải
tháo pin ra. C̣n nếu như muốn gọi điện (tức là sử dụng chức năng
nguyên thủy của máy), họ sẽ phải dựng ngược nó lên.
Rút kinh nghiệm N-Gage, Nokia tung tiếp ra N-Gage QD vào năm 2004,
khắc phục các thiếu sót về pin và thiết kế side-talking, thế nhưng
doanh số tiêu thụ vẫn rất èo uột, Trong ṿng 3 năm, hăng chỉ bán
được vẻn vẹn 2 triệu máy N-Gage (cả phiên bản đầu tiên lẫn QD), so
với dự kiến ban đầu là 6 triệu. Hiện Nokia chỉ c̣n kế hoạch sản xuất
với số lượng cực kỳ hạn chế để phục vụ hai thị trường Trung Quốc và
Ấn Độ mà thôi.
Đối với phần c̣n lại của thế giới, Nokia N-Gage thực sự đă từ giă
cơi đời trong cô độc, không ai hay biết, chấm dứt sự hoang tưởng và
́ xèo một thời. Lại một bài học nữa rút ra cho Nokia :"Chỉ làm khi
đă nghĩ cho chín".
Vietnamnet theo Ars
Technica |