Home-Left Menu
Home-HorizontalMenu

BẢN TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 16
(Tuần từ 14/11/2005-20/11/2005)

(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật LEADCO)

Địa chỉ: 85 Trần Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email: leadco@hn.vnn.vn

 

Để luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy bấm vào đây. Để được tư vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy bấm vào đây.


1. Quên định giá thương hiệu khi CPH, dễ nảy sinh tranh chấp

Đa số các doanh nghiệp thường hay "lăng quên" hoặc bỏ qua giá trị thương hiệu, tài sản sở hữu trí tuệ khi định giá để cổ phần hóa (CPH).

Ông Trần Việt Hùng - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ đă phản ánh và cảnh báo t́nh trạng trên sẽ dẫn đến hậu quả dễ làm thất thoát hoặc giảm giá trị các tài sản nhà nước khi CPH; gây tranh chấp phức tạp sau CPH và làm giảm khả năng phát triển lợi thế kinh doanh thông qua thương hiệu cùng các quyền sở hữu trí tuệ khác mà doanh nghiệp có được.

Khảo sát qua nhiều bảng thống kê tài sản của doanh nghiệp đưa vào CPH ông Hùng nhận định, các tài sản hữu h́nh như: nhà xưởng, máy móc, xe cộ... được định giá rất rơ ràng và cụ thể, nhưng tuyệt nhiên không có một mục nào liệt kê các giá trị của quyền sở hữu trí tuệ về: nhăn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, các sáng chế và giải pháp hữu ích... Và chúng ta có thể bị mất những tài sản rất lớn khi bỏ quên các giá trị quyền sở hữu trí tuệ như thế.

Theo ông Hùng trong thời gian vừa qua đă có hàng ngàn doanh nghiệp được CPH, nhưng đa số mới chỉ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ nên việc "quên" định giá thương hiệu chưa gây thiệt hại lớn. Tuy nhiên từ 2005 trở đi, sẽ CPH các công ty lớn, các tổng công ty đang sở hữu nhiều thương hiệu có giá trị của Việt Nam th́ vấn đề định giá thương hiệu và các quyền sở hữu trí tuệ trở nên cấp thiết. V́ thế, để đi đến quyết định CPH chính xác, các tài sản thương hiệu, sở hữu trí tuệ phải được thống kê, định giá đầy đủ để đưa vào danh mục tài sản CPH. Xác định chính xác quyền sở hữu đối với thương hiệu và các tài sản sở hữu trí tuệ khác để tránh các tranh chấp phức tạp về sau.

Tuy nhiên, ông Hùng thừa nhận, việc định giá thương hiệu và các tài sản sở hữu trí tuệ đang là một vấn đề rất mới ở nước ta, ngay cả với các cơ quan quản lư sở hữu trí tuệ. Hiện nay, có nhiều phương pháp khác nhau để xác định giá trị một thương hiệu. Tuy nhiên, tất cả các phương pháp này đều phức tạp và kết quả thường không phải lúc nào cũng được thừa nhận ngay.

Về mặt pháp lư, chúng ta vẫn c̣n thiếu các hướng dẫn xung quanh vấn đề định giá thương hiệu, việc tính toán đưa giá trị thương hiệu và các tài sản sở hữu trí tuệ khác vào CPH. Trong thời gian tới các cơ quan thẩm quyền cần bổ sung những thiếu sót này, không để xảy ra t́nh trạng "bỏ quên" giá trị thương hiệu khi CPH như trong thời gian vừa qua, ông Hùng nhấn mạnh.

Kinh nghiệm của các công ty nước ngoài khi mua lại các thương hiệu Việt Nam là thuê các công ty kiểm toán quốc tế định giá. Hiện nay, các công ty kiểm toán Việt Nam cũng đang thực hiện các dịch vụ kiểm toán cho CPH bao gồm cả việc đánh giá giá trị của thương hiệu. Các doanh nghiệp có thể thuê một lúc nhiều hăng kiểm toán độc lập để đảm bảo việc định giá khách quan và chính xác hơn.

Trên thực tế, đă có một số doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề này. Tổng Công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam - VINACONEX cũng đă thuê hai công ty kiểm toán độc lập có uy tín xác định giá trị doanh nghiệp để tiến hành CPH. Trong tổng số vốn nhà nước 601.2 tỷ đồng th́ tạm tính được giá trị lợi thế kinh doanh là 3,18 tỷ, giá trị thương hiệu là 3,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo ông Hùng, con số chưa thể hiện đúng giá trị thương hiệu của một tổng công ty lớn, hoạt động lâu năm về xây dựng cả trong và ngoài nước như VINACONEX. Cái giá này chỉ tương đương 200 ngàn USD; không bằng 1/10 số tiền  2,5 triệu USD mà Colgate (Hoa Kỳ) bỏ ra để mua lại thương hiệu kem đánh răng Dạ Lan ở TP.Hồ Chí Minh cách đây hơn 10 năm.

Nguyên Phong thực hiện

2. “Bùng nhùng” sở hữu trí tuệ

Thực trạng doanh nghiệp (DN) bị vướng về quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) khi sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa trong quá tŕnh hội nhập kinh tế quốc tế đang là một vấn đề rất phổ biến và bức xúc. Thế nhưng, nhiều DN hiện chưa nắm bắt được một cách cụ thể các quy định của pháp luật về SHTT cũng như vai tṛ của nó trong quá tŕnh sản xuất, kinh doanh”, bà Trương Thùy Trang, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cảnh báo.

Hai vấn đề lâu nay khiến DN hay “bùng nhùng” về SHTT là việc chuyển giao công nghệ, mua bán thiết bị, máy móc - có bao gồm các đối tượng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp (mẫu mă); và những vấn đề nảy sinh trong quá tŕnh xác lập và bảo vệ quyền đối với Sáng chế, Giải pháp hữu ích, Nhăn hiệu, Kiểu dáng, Tên thương mại…
Trong các tranh chấp về SHTT thời gian qua, th́ tranh chấp về kiểu dáng công nghiệp là phức tạp nhất. Điển h́nh là vụ tranh chấp “ballet nhựa” giữa Công ty Nhựa Sài G̣n với DN nhựa Đại Đồng Tiến; hay vụ tranh chấp kiểu dáng “vơng xếp” giữa Duy Lợi với một số DN khác tại TP.HCM.

Điều lo ngại nhất hiện nay là một số DN ăn cắp mẫu mă của nước ngoài đem đi bảo hộ, sau đó đi kiện các DN khác; hoặc một số DN ăn cắp mẫu mă của người khác đem đi bảo hộ rồi kiện ngược lại DN bị “đánh cắp”.

Nguyên nhân xảy ra t́nh trạng này là do nhiều DN c̣n rất“mù mờ” về SHTT, chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật, v́ vậy không bảo vệ được những thành quả sáng tạo của ḿnh, thậm chí c̣n xâm phạm quyền của người khác.

Để chuẩn bị hành trang cho các DN trong quá tŕnh hội nhập, bà Hoàng Tố Như, Phó trưởng Pḥng SHTT (Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) cho biết, đây là một vấn đề rất khó. Theo khuyến cáo, đối với những hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, DN nên đăng kư nhăn hiệu tại nước nhập khẩu để được bảo hộ quyền khi hàng hoá lưu thông trên thị trường.

DN không nên đăng kư nhăn hiệu một cách tràn lan, mà phải xác định xem đơn vị ḿnh có khả năng xuất khẩu hàng hóa sang quốc gia đó không; sản phẩm xuất khẩu gồm những chủng loại nào; tuyệt đối không đăng kư SHTT theo trào lưu, v́ như thế sẽ rất tốn kém, mà không hiệu quả. Trường hợp đăng kư nhưng không sử dụng, hiệu lực của các văn bằng có thể bị hủy bỏ.

Pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau, do đó thủ tục đăng kư tại mỗi quốc gia cũng khác nhau. Chẳng hạn ở Mỹ, cơ sở để được cấp văn bằng là việc sử dụng thực tế tại Mỹ. Chính v́ vậy, khi đăng kư nhăn hiệu vào quốc gia nào, DN nên t́m hiểu kỹ pháp luật của quốc gia đó để việc nộp đơn đăng kư có hiệu quả.

Riêng lĩnh vực da giày, bà Như cho biết, nếu việc sử dụng các kiểu dáng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, mẫu mă luôn thay đổi, th́ DN không nên đăng kư kiểu dáng công nghiệp. Trường hợp muốn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho những sản phẩm mới, th́ trước khi đưa sản phẩm hàng hóa ra thị trường, DN nên làm thủ tục đăng kư bảo hộ. Nếu đưa sản phẩm ra rồi mới đăng kư, th́ phải mất 9 tháng mới được cấp văn bằng, như thế mẫu mă đă lỗi thời.

Ở các ngành khác như mỹ phẩm, DN thường đăng kư mẫu mă trước, chờ khi có văn bằng mới đưa ra thị trường, cách làm này rất hiệu quả. Đối với DN, quyền SHTT là tài sản kinh doanh và chúng chỉ tăng trưởng khi được khai thác sử dụng hợp lư. Do vậy, việc h́nh thành chiến lược phát triển quyền SHTT của DN là rất cần thiết và cấp bách.
Quyền SHTT đă trở thành điều kiện bắt buộc cho các quốc gia khi hội nhập sân chơi thương mại quốc tế. Trên cơ sở Hiệp định TRIPS (WTO – 1995), Hiệp định VN - Thụy Sĩ về SHTT (1999), Hiệp định Thương mại VN – Hoa Kỳ (2000), nh́n chung pháp luật SHTT VN đă căn bản phù hợp với các chuẩn mực có tính bắt buộc trong các hiệp định kể trên về đối tượng, nội dung bảo hộ, thời hạn được hưởng quyền…

Điều quan trọng c̣n lại phụ thuộc rất nhiều vào DN, tức phải biết trang bị hành trang pháp lư cho ḿnh một cách chu đáo, bài bản khi tiến sâu vào quá tŕnh hội nhập

3. Microsoft đạt thoả thuận giải quyết tranh chấp thương mại

Tập đoàn Microsoft vừa đạt được thoả thuận giải quyết tranh chấp thương mại trị giá 30 triệu đôla Mỹ với một công ty khai thác Internet của Hàn Quốc v́ cho rằng Microsoft đă cạnh tranh thương mại không công bằng.

Daum Communications Corp. đă gởi đơn kiện lên Ủy ban thương mại b́nh đẳng Hàn Quốc vào năm 2001, với cáo buộc Microsoft vi phạm luật thương mại quốc tế bằng cách đưa phần mềm nhắn tin vào hệ điều hành của hăng. Daum cũng đă xác nhận thoả thuận này. Oliver Roll, Tổng giám đốc tiếp thị của Microsoft tại châu Á cho biết thoả thuận mới quy định Microsoft phải đền bù cho Daum 10 triệu đôla tiền mặt, 10 triệu đôla tiền quảng cáo và 10 triệu đôla cho các hợp đồng kinh doanh khác. Daum đă hoan nghênh thoả thuận đạt được.

4. Sáng tối bức tranh quảng cáo

Trong lĩnh vực tiếp thị và quảng cáo không thiếu các chuyên gia và khó có thể nói ai hơn ai. Điểm lư thú có lẽ ở chỗ các nhà tiếp thị tuy đại diện cho những sản phẩm gần như trái ngược nhau, nhưng tất cả đều chung quan điểm về con đường dẫn đến thành công: đó là “Luôn sáng tạo và đổi mới trong các ư tưởng quảng cáo!”.

Chiến dịch tiếp thị của các công ty, tập đoàn lớn rất nhạy cảm với thời cuộc và được giới quảng cáo quốc tế đánh giá cao. Thành công của các thương hiệu như Tiger, Sunsilk là hoàn toàn xứng đáng để cho nhiều doanh nghiệp học tập. Một nhăn hiệu sẽ thành công và được nhiều người biết đến, nếu doanh nghiệp tạo ra được yếu tố đặc sắc và sáng tạo trong các quảng cáo. Một quảng cáo sử dụng công nghệ h́nh ảnh hiện đại chưa chắc hiệu quả bằng những quảng cáo đơn giản với những giai điệu âm nhạc mượt mà, lôi cuốn.

Tuy nhiên, có điều đáng buồn là đôi khi đă xuất hiện “sự đột phá thái quá” khiến quảng cáo mất hết ư nghĩa của nó, thậm chí c̣n phản tác dụng, khiến nhiều khách hàng lánh xa sản phẩm được quảng cáo. Thomas Hosk, giám đốc tiếp thị của tập đoàn Vodaphone, hoàn toàn có lư khi cho rằng: “Các công ty đừng quá chủ quan với những quảng cáo của ḿnh. Lư do thật đơn giản: Quảng cáo luôn là con dao hai lưỡi”.

Từ những điểm sáng ...

Sochiro Honda đă từng nói: “Quảng cáo là một trong những thứ có thể làm người ta thích thú nhưng sau đó lại có thể nổi xung thiên ngay tức th́. Cái sự ra rả từ ngày này qua ngày khác, thói khoa trương quá lố đă làm cho người ta phát ngán quảng cáo. Nhưng rất có thể nhiều người sẽ cảm thấy thiếu thiếu nếu một ngày nào đó họ không c̣n được nh́n thấy các quảng cáo nữa!”.

Vào buổi sơ khai, quảng cáo chỉ nhằm cung cấp thông tin. Đến thập niên 1960, quảng cáo mới đánh thức cả thế giới và trở thành hiện tượng thật sự. Theo một số chuyên gia, cha đẻ của quảng cáo không ai khác hơn là Michel de Montaigne (thế kỷ XVII). Ông đă đề nghị nhà vua Pháp thành lập một bộ máy quảng cáo để mọi người trong xă hội biết nhiều hơn về các sản phẩm đang được mua bán trên thị trường.. Năm 1630, giám đốc tờ báo La Gazette thành lập một văn pḥng chuyên cung cấp những địa chỉ thông tin cần thiết, cũng như dành một mục trên tờ báo của ḿnh để quảng bá các loại sản phẩm khác nhau. Cung- cầu cần có nơi để hội tụ và trao đổi, nhất là trong lĩnh vực thủ công và thương mại. Dù hơi đơn giản nhưng đó là bước khởi đầu cực kỳ quan trọng của hoạt động quảng cáo.

Mục đích đầu tiên của quảng cáo là cung cấp thông tin cho người mua về sự hiện diện của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó. Năm 1836, Emile de Girardin, một trong những ngọn cờ tiên phong của phương tiện thông tin đại chúng - đă nghĩ ra h́nh thức “quảng cáo trả tiền”. Đến năm 1910, các áp phích quảng cáo bắt đầu được biết đến. Paris và các thành phố lớn ở châu Âu tràn ngập áp phích quảng cáo. Đến tận bây giờ, một số h́nh thức quảng cáo vẫn đi theo hướng “thông tin sơ khai” như quảng cáo miễn phí ở cửa ngơ ra vào của các thành phố lớn, quảng cáo trên các tờ báo địa phương.

Quảng cáo - trong chừng mực nào đó – có vẻ giống như thời trang, bởi nó chỉ quanh đi quẩn lại. Sau vài thập niên phát triển và trưởng thành, quảng cáo có vẻ thông minh hơn, độc đáo hơn, không c̣n chỉ tập trung vào cung cấp thông tin và quá trừu tượng như trước nữa. Đó cũng là một cách tự soi lại ḿnh.

Có thể nói, cho đến bây giờ, quảng cáo đă thay đổi rất nhiều để trở thành “một phần tất yếu của cuộc sống” và xứng đáng nhận những lời khen ngợi nếu nó thành công. Ngôi sao Juliette Binoche đă giúp nước hoa Poeme của L’Oreal bán chạy kỷ lục. C̣n từ thập niên 1950, nam danh ca Gilbert Becaud đă quảng cáo cho xe Vespa. Việc sử dụng các siêu sao điện ảnh, thể thao trong quảng cáo không phải là điều mới mẻ nữa. Có khác chăng là việc bổ sung vào đội ngũ đó các siêu người mẫu như Cindy Crawford quảng cáo cho Revlon, Claudia Schiffer quảng cáo cho Channel…

Và không dừng lại ở việc sử dụng tiếng tăm của các ngôi sao điện ảnh, thời trang, bản thân quảng cáo cũng vận động để tự thay đổi ḿnh và trở nên hấp dẫn hơn, độc đáo hơn. Công ty xe hơi Daimura của Đức đă đưa ra một “tuyệt chiêu” quảng cáo như sau: “Nếu ai phát hiện ra xe ôtô của công ty xảy ra sự cố mà xe khác phải kéo đi sửa, th́ chúng tôi sẽ tặng người đó 10.000 USD”. Quảng cáo rơ ràng đă được đông đảo khách hàng hoan nghênh, khiến cho xe hơi của họ bán rất chạy hẳn lên.

C̣n một số hăng sản xuất tất da chân Nhật bản đă dùng cách chụp cận cảnh một anh chàng đang nh́n chăm chú đôi chân mang tất được phóng to của một cô gái. So với cách quảng cáo này th́ những câu quảng cáo khác như: “Tất rất bền, hợp thời trang, đẹp…” quả là lạc hậu, bởi cách quảng cáo mới đă gây ấn tượng mạnh về món hàng mà bạn định bán.

Hơn thế nữa, quảng cáo cũng hội nhập văn hoá toàn cầu chứ không “cục bộ địa phương” như nhiều người lầm tưởng. Giải vô địch bóng đá thế giới Worldcup 2002 đă làm nước Nhật t́m ra một cách quảng cáo hoàn toàn theo kiểu … Mỹ. Đó là quảng cáo di động. Taxi, xe buưt tàu điện, máy bay, mặt tiền và hông nhà cao tầng… đều được tận dụng triệt để. Cái giá không rẻ chút nào. Để “dán” h́nh các danh thủ thế giới như Ronaldo, Zidane hay Roberto Carlos lên 16 chiếc máy bay của ḿnh, hăng Nippon Air phải tốn đến gần 800.000 USD. Hay để “treo” b́nh nước khoáng lên thành xe buưt, Perrier phải bỏ ra 40.000 USD (trong nội thành Tokyo, có khoảng 2000 xe buưt).

Một số cuộc điều tra cho thấy 96% người dân Nhật cho rằng quảng cáo cố định – dù to lớn đến đâu - vẫn không bằng quảng cáo di động! Hàng loạt chiếc xe taxi nhỏ bé chạy vèo vèo trên phố vẫn ngon lành hơn cả núi áp phích. Theo Cedric Dufoix, giám đốc tiếp thị của Adidas th́ “quảng cáo di động sẽ đánh thẳng vào giới trẻ trong độ tuổi 12-20”. Do vậy, 10 chiếc xe buưt được sơn h́nh chiếc giày Adidas đă chạy bon bon suốt thời gian diễn ra Worldcup 2002 tại Nhật bản. Nhưng Sony c̣n chơi trội hơn khi sơn phết quảng cáo lên cả một đoàn xe lửa cao tốc với cái giá khoảng 900.000 USD. Trong khoảng thời gian bóng đá làm Tokyo lên cơn sốt, th́ tổng cộng 150.000 người đă leo lên bước xuống đoàn xe ấy của Sony.

Các hăng sản xuất kinh doanh cũng tỏ ra đắc ư với một nguyên tắc quá hiển nhiên: Càng to th́ càng đập vào mắt. Thế là các pa-nô khổng lồ tha hồ làm mưa làm gió. Các pa-nô quảng cáo ở ngoại ô Tokyo đă làm các tài xế chú ư nhiều và người ta thống kê được mỗi ngày có ít nhất 100.000 tài xế phải liếc mắt lên các pa-nô ấy. Từ lâu, những hăng xe hơi lừng lẫy như Citroen hay Fiat đă “thâm canh” trên lănh địa này. C̣n Adidas th́ sử dụng hết cả tháp phát sóng của Đài truyền h́nh NHK để “vẽ chân dung” danh thủ Zidane! Kết quả th́ chắc chắn trên cả tuyệt vời.

.... đến những mảng tối

Nhiều chuyên gia quảng cáo cho rằng: Người tiêu dùng trên thế giới biết đến những sản phẩm nào đó nhờ quảng cáo th́ đă là tốt rồi, nhưng việc họ có mua sản phẩm hay không th́ lại là chuyện khác, thành thử các chuyên gia quảng cáo phải hết lời ca ngợi sản phẩm. Như vậy, đă có sự chuyển dịch từ quảng cáo thông tin sang quảng cáo ca ngợi và tâng bốc! Từ đây, khách hàng bắt đầu mỏi mắt, điếc tai v́ “ xà pḥng tẩy sạch nhất”, “nước hoa thơm nhất”, “kem đánh răng cao cấp nhất”… Đến cuối thập niên 1980, khi phong trào mua sắm và tiêu thụ dâng lên như cơn lũ lớn, th́ một ngành đại công nghệ quảng cáo bắt đầu lộ diện. Các ông trùm quảng cáo và các hăng sản xuất bắt đầu dùng những tṛ tinh vi nhất để đánh vào tâm lư người tiêu dùng theo kiểu “hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn”. Rồi đến một lúc, người mua không chỉ mua sản phẩm mà mua cả … h́nh ảnh.

Sau đó, khi tâng bốc chưa đủ th́ các nhà quảng cáo lại nghĩ ra các quảng cáo “càng độc đáo bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu”. Hai hăng mỹ phẩm lớn của Nhật là Ykesa và Donoko đă tung ra nhiều loại nước hoa mới với những chiêu quảng cáo khác lạ, vừa kiếm lời vừa vượt qua được mạng lưới kiểm duyệt của chính phủ. Đầu tiên, Donoko hướng khách hàng vào một kiểu quảng cáo “mời gọi” với h́nh một người mẫu ngửa đầu ra sau khêu gợi, người đẫm mồ hôi bên cạnh lọ nước hoa Addict. Chỉ một tuần sau, cơ quan chống quảng cáo vi phạm giới tính của Nhật bản đă lên tiếng chống quảng cáo nguy hại đó và đ̣i Donoko ngừng ngay quảng cáo v́ “h́nh ảnh người phụ nữ bị coi như đồ vật đầy ham muốn khoái lạc và nhục dục”.

Chiến dịch quảng cáo của Donoko không chỉ là giọt nước duy nhất làm tràn ly. Kể từ thời điểm cạnh tranh với Donoko, Ykesa đă cho ra mắt quảng cáo loại nước hoa dành cho nam giới với nhăn hiệu V4 thậm chí c̣n “dữ dội” hơn: Một người đàn ông với cơ thể đầy lông lá không một mảnh vải che thân, trong tay cầm lọ nước hoa xoa vào cơ thể. Nhà nhiếp ảnh Jean Loup đă chụp chính vị giám đốc điều hành Ykesa Noani khoả thân để quảng cáo cho loại nước hoa mới của công ty ông. Giám đốc nghệ thuật của Ykesa, Hatsoshi Mura, rất tâm đắc với cách quảng cáo mới này. Ông giải thích: “Thiên hạ chắc sẽ bị sốc khi nh́n thấy Ykesa Noani khoả thân. Chúng tôi muốn có được tinh thần đó để làm thay đổi những lớp rào chắn hiện có”.

Các phương thức quảng cáo trên được nhiều người coi là sự xuống cấp của quảng cáo. Mùa hè năm ngoái, các cơ quan phụ trách quảng cáo đă đề ra một số quy tắc chung do một số hăng tiêu thụ, các tổ chức nhân quyền phụ nữ đă khiếu nại lên cơ quan giám sát quảng cáo v́ lạm dụng và hạ thấp h́nh ảnh con người. Ở Tokyo có 730 lá đơn kiện hăng Ykesa có h́nh ảnh quảng cáo loại nước hoa NU mang tính khiêu dâm lộ liễu – những tấm thân trần quấn lấy nhau. Chính phủ Nhật hiện đang thắt chặt việc kiểm soát những quảng cáo với các h́nh ảnh “xa rời thuần phong, mỹ tục”. Một cơ quan chính phủ Pháp nói: “Cơ quan giám sát mỹ phẩm và vải vóc cho phép dùng ảnh khoả thân, nhưng chỉ khác là trước đây, ảnh khoả thân được treo ở trung tâm thành phố, c̣n năm nay chỉ được đăng trong các tạp chí. Ví dụ, nếu được chấp thuận, nước hoa V4 hay NU chỉ được đăng trên Tokyo Times hoặc được in trong đồng hồ Citizen K”.

Độc hại như Donoko và Ykesa đă đành, nhưng ngày nay nhiều công ty quảng cáo gian dối và lường gạt người tiêu dùng th́ không thể chấp nhận được. Công ty chuyên kinh doanh kính mắt Hans, Mỹ, đă tổ chức một chương tŕnh quảng cáo sản phẩm “Một USD cho một chiếc kính mắt”. Tuy nhiên, khách hàng đă tới công ty này và thấy rằng giá chào bán đặc biệt 1 USD chỉ được áp dụng đối với gọng kính mà được mua cùng với những chiếc mắt kính rất đắt tiền hoặc ngược lại. Khách hàng nổi giận và cơ quan chức năng đă phải vào cuộc. Việc điều tra cho thấy Hans trong quảng cáo về việc “Một USD cho một chiếc kính mắt” đă nêu rơ rằng cứ 5 ngày một lần, họ sẽ có mức giá bán đặc biệt đối với những sản phẩm khác nhau được bán trong công ty, bao gồm dung dịch nước muối, kính mắt, gọng kính, kính mắt áp tṛng... Tuy nhiên, chi tiết về chương tŕnh khuyến măi như “Mắt kính giá 1 USD cùng với việc mua gọng kính giảm giá 20% (giới hạn cho 40 khách hàng)” chỉ được thông báo khi họ đă vào bên trong cửa hàng. Hans quảng cáo khuyến măi sản phẩm với giá rất thấp, nhưng khi khách hàng muốn mua th́ họ lại phải đối mặt với những điều kiện bổ sung. Hành vi của Hans đă vi phạm quy định của quảng cáo và đưa ra những thông tin sai trái, không đúng sự thực hoặc gây hiểu lầm cho khách hàng. Không lâu sau đó, Hans đă phải phá sản v́ bị khách hàng tẩy chay.

Dường như, cùng với thay đổi của thời cuộc, quảng cáo đang mất dần chức năng giải thích, biểu thị mà lại tập trung kích thích tính ṭ ṃ, sự hiếu kỳ và cả “ngũ giác quan” của người tiêu dùng. Cần biết rằng vào thập niên 1980, quảng cáo vẫn bị đánh giá là tạo ra nhu cầu ảo, mê hoặc người tiêu dùng, thậm chí biến họ thành kẻ đờ đẫn. Sự khủng hoảng này lên đến đỉnh điểm vào những năm tiếp theo. Quảng cáo đă điểm ngay yếu huyệt của tất cả các thành phần xă hội, không phân biệt ai. Quảng cáo c̣n gây sốc bằng cách tạo ra những cú sốc theo kiểu Benetton, hăng đă bị dư luận lên án do không “kiêng nể” cả tôn giáo và t́nh mẫu tử (Benetton quảng cáo áo thun và quần jean – vào năm 1993 – bằng h́nh ảnh một người lính Croatia đẫm máu. Doanh thu của Benetton sau đó đă tụt dốc thê thảm.

Ngày nay, quảng cáo đă là “một phần tất yếu của cuộc sống”. Nhiều thông điệp quảng cáo đi vào đời sống với tính hấp dẫn và sức lôi cuốn rất cao. Trong các chiến lược tiếp thị th́ quảng cáo đóng vai tṛ chất xúc tác để sản phẩm tới được người tiêu dùng một cách nhanh chóng, đồng thời kích thích tiêu dùng, qua đó đẩy mạnh quá tŕnh sản xuất và cuối cùng là tăng trưởng kinh doanh. Một quảng cáo hay và sáng tạo luôn là yếu tố quan trọng của chiến lược tiếp thị thành công. Tuy nhiên, nếu không cẩn thận, quảng cáo cũng sẽ trở thành con dao hai lưỡi khi nó có thể đưa một sản phẩm thuộc loại vô danh lên đỉnh cao, nhưng đồng thời cũng có thể là dấu chấm hết đối với một sản phẩm đă được “vua biết mặt, chúa biết tên”.

5. Đ̣i được nhăn hiệu VNPT tại Mỹ

Nhăn hiệu VNPT của tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam và bốn nhăn hiệu công ty khác là Viettel, VDC, VTI và Saigon Postel bị đăng kư ở Mỹ vừa được một công ty luật trong nước đ̣i lại thành công với chi phí thấp.

Nửa cuối năm 2002, khi Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) dự định đăng kư bản quyền nhăn hiệu của ḿnh tại Mỹ th́ mới té ngửa ra rằng nhăn hiệu đă được một đối tác ở bang Illinois, Mỹ đăng kư trước.

Công ty này (tên đầy đủ là Viaworld Internet Telecommunications Corporation - VITC) c̣n nộp đơn đăng kư tại Cơ quan Sáng chế và Nhăn hiệu của Mỹ (USPTO) cả bốn nhăn hiệu của các công ty bưu chính viễn thông khác gồm Viettel, VDC, VTI và Saigon Postel.

Một bản fax của Công ty VITC cho Văn pḥng Luật sư Lê & Lê, đại diện của phía VNPT, giải thích rằng họ làm vậy v́ “theo pháp luật của Mỹ, VNPT không thể đăng kư bản quyền và nhăn hiệu hàng hóa tại Mỹ cho các tên VNPT,VTI và VDC”.

Lê & Lê chứng minh điều này không đúng v́ Việt Nam và Mỹ đều là thành viên Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Mỹ và Việt Nam đă có hiệp định thương mại song phương trong đó có phần về quyền sở hữu trí tuệ.

“Rất khó tin là luật sư của VITC không hiểu điều này. Tuy nhiên, chúng tôi không hiểu được động cơ của VITC khi đăng kư”, ông Lê Hoài Dương, Trưởng văn pḥng Luật sư Lê & Lê, nhận xét.

Thành lập tại Mỹ, nhưng VITC có nhiều nhân viên người Việt và là công ty đối tác chủ yếu của VNPT tại Mỹ từ năm 1995. Ông Nguyễn Bá Thước, Phó tổng giám đốc VNPT, cho biết hiện tổng công ty đang thương thảo kư hợp đồng với VITC kinh doanh dịch vụ điện thoại Internet (VoIP) tại Mỹ.

Một kế hoạch hành động nhanh được vạch ra để đ̣i lại những nhăn hiệu quan trọng này. Do Công ty VITC mới nộp đơn đăng kư từ tháng 6/2002 nên chưa chính thức được phía Mỹ công nhận. Theo luật của Mỹ, một nhăn hiệu chỉ có thể được đăng kư tại Mỹ khi nhăn hiệu đó đă được sử dụng tại Mỹ cho các sản phẩm và dịch vụ xin đăng kư. Một trong số những ngoại lệ cho quy định này là nhăn xin đăng kư vào Mỹ đă được đăng kư tại nước xuất xứ.

Ngày 24/9/2002, VNPT gấp rút nộp đơn đăng kư nhăn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Theo quy tŕnh thông thường, th́ phải 14 tháng sau nhăn hiệu VNPT mới được chính thức công nhận tại Việt Nam. Nếu vậy, đơn của VITC có thể đă được chấp nhận ở Mỹ và thủ tục đ̣i lại sẽ rắc rối và tốn kém hơn rất nhiều. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đă nhanh chóng hoàn thành thủ tục đăng kư cho VNPT trong ṿng ba tháng.

Tháng 1/2003, VNPT nộp đơn đăng kư nhăn hiệu tại Cơ quan Sáng chế và Nhăn hiệu của Mỹ, xin hưởng quyền ưu tiên của đơn đă được nộp tại Việt Nam. Tuy nhiên, tháng 7/2003, Cơ quan Sáng chế và Nhăn hiệu của Mỹ thông báo có thể từ chối đơn đăng kư nhăn hiệu của VNPT do nhăn này có thể gây nhầm lẫn với nhăn hiệu đă nộp trước của VITC.

Sau nhiều lần thúc giục, cuối cùng Công ty VITC đă rút bỏ các đơn đăng kư nhăn hiệu trên của các công ty Việt Nam và VNPT chính thức được cấp giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu tại Mỹ vào tháng 1 năm nay.

Ông Lê Hoài Dương nói điều quan trọng là chi phí cho vụ đ̣i nhăn hiệu này thấp hơn nhiều so với một số vụ tương tự. Thay v́ thuê công ty luật của Mỹ với chi phí vài trăm Đô-la một giờ, Lê & Lê làm hầu hết công việc nghiên cứu, đưa ra giải pháp và soạn thảo văn bản, công ty luật nước ngoài chỉ xem xét lại lần cuối. Nhờ đó chi phí rất ít, chỉ khoảng 8.000 Đô-la trong khi có doanh nghiệp Việt Nam phải chi hàng trăm ngàn Đô-la cho những vụ việc tương tự.

Tuy nhiên, đăng kư được nhăn hiệu chưa phải là đă hết. Theo luật của Mỹ, sau năm thứ 5 và năm thứ 9, chủ sở hữu nhăn hiệu phải có thông báo đến USPTO chứng minh rằng nhăn hiệu đang được sử dụng tại Mỹ th́ mới được tiếp tục duy tŕ sở hữu.

Nhăn hiệu với logo hoa sen của Vietnam Airlines đă hết hiệu lực trên website của USPTO từ tháng 3/2005. Vietnam Airlines đăng kư từ năm 1998, và theo phỏng đoán của một số chuyên gia sở hữu trí tuệ, có lẽ Vietnam Airlines đă không kịp thời làm bản thông báo về việc nhăn hiệu được sử dụng tại Mỹ nên bị USPTO hủy quyền sở hữu.

Như vậy, nếu có ai nhanh tay đăng kư nhăn hiệu Vietnam Airlines trong thời gian này th́ câu chuyện tranh chấp tốn kém sẽ lại diễn ra. Một số nhăn hiệu khác như Ngân hàng Sài g̣n Thương Tín cũng trong t́nh trạng tương tự.

Mặc dù VITC đă rút đơn, nhưng hiện thời VNPT mới chỉ đăng kư hai nhăn hiệu chính của ḿnh tại Mỹ. C̣n các công ty con như VDC, VTI th́ vẫn chưa đăng kư. Ông Thước nói không muốn đăng kư riêng những nhăn hiệu này v́ sợ sẽ làm “loăng” nhăn hiệu VNPT. “Những nhăn hiệu này cần được đăng kư dưới logo VNPT chứ không phải đứng độc lập”, ông Thước nói.

Chuyện ǵ sẽ xảy ra nếu các công ty con của VNPT được cổ phần hóa, thoát khỏi ṿng kiểm soát của tổng công ty mẹ nhưng vẫn sử dụng nhăn hiệu VNPT? VNPT đang gấp rút soạn thảo hợp đồng license về sử dụng nhăn hiệu cho 115 đơn vị trực thuộc và đăng kư tại Cục Sở hữu công nghiệp. Một bước lo xa không thừa.

“Bữa tiệc FDI” của Trung Quốc sẽ chấm dứt?

Các chuyên gia quốc tế đang tranh luận về khả năng Trung Quốc có tiếp tục “bữa tiệc FDI” nữa không trước đối thủ Ấn Độ

Gần đây có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc (TQ) đang thua Ấn Độ trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Bộ Thương mại TQ cho biết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 5 tháng đầu năm nay đă giảm lần đầu tiên trong 5 năm qua.

Tại sao sụt giảm?

Theo các chuyên gia quốc tế, có ít nhất 4 lư do. Thứ nhất, đang có xu hướng FDI toàn cầu dịch chuyển từ sản xuất sang dịch vụ. Trong khi TQ chiếm chưa đầy 3% thương mại dịch vụ toàn cầu, th́ những kỹ năng ngoại ngữ mạnh mẽ, tiến bộ trong việc tạo lập các nhăn hiệu được quốc tế công nhận và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) đă biến Ấn Độ thành một trung tâm đầu tư vào dịch vụ. Chính phủ Ấn Độ cũng đang thúc đẩy việc tự do hóa và tư nhân hóa một số ngành như hàng không, viễn thông, ngân hàng và cam kết cải thiện hạ tầng điện lực và vận tải.

Thứ hai, nền kinh tế TQ đang phải đối diện một số vấn đề về cơ cấu. Những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tràn lan, các luật chống sao chép lậu và những vi phạm nhăn hiệu, bản quyền, cũng như việc thực thi và các cơ chế giải quyết tranh chấp, không phát triển bằng Ấn Độ dù phải thừa nhận là cơ sở hạ tầng pháp lư vẫn c̣n thiếu hiệu quả và quan liêu. Trong khi tăng trưởng kinh tế TQ thuộc loại cao nhất châu Á, các thị trường chứng khoán của nước này thuộc loại kém phát triển nhất. Chỉ số Sensex của thị trường chứng khoán Bombay tăng 10% trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6-2005, th́ thị trường chứng khoán Thượng Hải giảm 8,5% trong cùng thời gian. Nỗ lực của chính quyền TQ bán tống những cổ phiếu được định giá thấp không mua bán được, chiếm 2/3 giá trị thị trường của TQ, đă góp phần tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán TQ. Những vụ việc tham nhũng được dư luận biết đến nhiều trong các công ty quốc doanh của TQ cũng đă cản trở đầu tư. Tỉ lệ nợ xấu trong các ngân hàng TQ và sự sụp đổ của Công ty China Aviation Oil (Singapore), nhà cung cấp xăng máy bay chính của TQ, theo sau khoản thiệt hại 554 triệu USD đầu tư phát sinh, cho thấy sự yếu kém trong việc quản lư rủi ro ở các công ty TQ. Ngoài ra, nhiều cuộc tranh căi gần đây trong hệ thống ngân hàng TQ xảy ra trước khi có các kế hoạch niêm yết chúng.

Thứ ba, trong một số trường hợp Chính phủ TQ đang nỗ lực ngăn cản đầu tư nhiều hơn nhằm ngăn chặn nền kinh tế tăng trưởng quá nóng. Các nỗ lực khống chế áp lực lạm phát bằng cách hạ nhiệt tăng trưởng bong bóng của ngành địa ốc, giảm đầu tư vào tài sản cố định và làm chậm đi một số ngành, bao gồm thép và xi măng, bằng cách tăng lăi suất, tăng yêu cầu về dự trữ và “vét” thanh khoản thừa bằng việc phát hành trái phiếu đă làm giảm đầu tư vào TQ. Với việc TQ có 600 tỉ USD dự trữ ngoại hối (so với 120 tỉ USD của Ấn Độ), đă có một sự dịch chuyển đầu tư hướng nội vào TQ bằng đầu tư hướng ngoại của chính TQ. Việc hăng máy tính Lenovo mua lại bộ phận sản xuất máy tính cá nhân của hăng IBM, việc hăng Haier ngỏ ư mua lại hăng sản xuất hàng gia dụng Maytag và gần nhất là việc tập đoàn dầu khí CNOOC muốn mua lại Unocal đă phản ánh điều này. Ngoài ra, do người tiêu dùng TQ tăng sức mua, v́ thế có thể có một sự dịch chuyển từ tăng trưởng do đầu tư sang tăng trưởng do tiêu dùng, biến FDI thành một động cơ tăng trưởng thứ yếu.

Cuối cùng, những cuộc tranh chấp thương mại giữa các quốc gia, đang hay sắp diễn ra, có thể ngăn cản một số nước đầu tư vào TQ. Với việc Mỹ buộc tội TQ góp phần làm tăng thâm hụt tài khoản văng lai của Mỹ, áp đặt các hạn ngạch bảo vệ lên hàng dệt may TQ và gia tăng áp lực lên Bắc Kinh định giá lại đồng nhân dân tệ, quan hệ Trung - Mỹ trở nên nguội lạnh. Quan hệ Trung - Nhật đang ở mức tồi tệ nhất do những tranh căi liên quan đến việc thăm đền Yasukuni của Thủ tướng Nhật và việc Nhật cải biên sách giáo khoa lịch sử, cũng như do những tranh chấp lănh thổ giữa 2 nước. Những căng thẳng này đă tác động đến du lịch giữa Nhật và TQ và nếu kéo dài sẽ làm giảm sút thương mại và đầu tư của Nhật ở TQ.

Không chủ quan

Không có tiến triển nào trong những tiến triển nói trên bác bỏ được một thực tế là Ấn Độ vẫn c̣n phải vượt một chặng đường dài mới theo kịp TQ. Năm 2004, Ấn Độ chỉ thu hút một tỉ lệ nhỏ FDI so với TQ, (5 tỉ USD so với 60 tỉ USD). Kết quả này một phần do cộng đồng người Hoa ở nước ngoài đầu tư ở TQ đáng kể hơn so với những ǵ Ấn kiều làm ở quê nhà. Ấn Độ cũng cần giải quyết các vấn đề tham nhũng, quan liêu; cải thiện cơ sở hạ tầng liên quan đến việc sản xuất - truyền tải điện, cùng các mạng lưới đường bộ, đường sắt và hàng không. Bên cạnh đó, trong khi chính quyền của Thủ tướng Manmohan Singh nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, lại xảy ra t́nh trạng “hai bước tiến, một bước lùi” do các đồng minh cánh tả trong chính phủ mưu toan làm chệch hướng cải cách trong lĩnh vực lao động và tư nhân hóa các ngành công nghiệp quốc doanh.

Về trung hạn, TQ có thể bắt kịp Ấn Độ trong ngành dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng luật pháp, việc quản trị và kỹ năng tiếng Anh cải thiện ở đại lục. Hơn nữa, theo thỏa thuận khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), TQ sẽ phải mở rộng mức độ sở hữu nước ngoài, vốn sẽ thu hút thêm đầu tư. Các ngân hàng nội địa của TQ sẽ phải cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ nước ngoài từ cuối năm 2006. Cuối cùng, với việc trao đổi thương mại Trung- Ấn đạt 14 tỉ USD trong năm 2004, du lịch và các hoạt động giao lưu qua biên giới đang tăng, sự tăng trưởng và phát triển của mỗi nước sẽ ít có khả năng trở thành một tṛ chơi kẻ ăn người thua. Khi cả 2 nền kinh tế tăng cường ḥa nhập, FDI ở mỗi nước sẽ bổ trợ cho cả hai.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, do TQ và Ấn Độ cùng cạnh tranh về đầu tư nước ngoài, tranh giành tài nguyên dầu khí để đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước và TQ tiếp tục quan hệ nồng ấm với Pakistan trong khi quan hệ giữa hai cường quốc hạt nhân Nam Á vẫn lạnh lùng do vấn đề Kashmir, quan hệ Trung- Ấn vẫn có tính cạnh tranh nhiều hơn là bổ trợ cho nhau. Trong trường hợp này, TQ có thể thua Ấn Độ về dài hạn xét về mô h́nh phát triển và khả năng thu hút đầu tư nước ngoài.

TQ thực thi mô h́nh phát triển “trên xuống”, dựa vào đầu tư nước ngoài và chính phủ tạo việc làm thông qua các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng. Trong khi đó Ấn Độ áp dụng mô h́nh phát triển từ “dưới lên” trên cơ sở kỹ năng kinh doanh của “quần chúng”, nơi sự can thiệp của chính quyền là một lực cản hơn là một cứu cánh do sự quan liêu, tham nhũng và bộ máy thiếu hiệu quả. Mô h́nh dựa trên sáng kiến và tinh thần doanh nghiệp của Ấn Độ có thể bền vững hơn về lâu về dài so với mô h́nh “đút ăn bằng th́a” của nền kinh tế TQ.

Trùng Quang thực hiện

6. Không đăng kư ở Nhật, DN XK dễ mất thương hiệu

Không đăng kư bảo hộ thương hiệu ở Nhật các DN xuất khẩu Việt Nam sẽ có nguy cơ mất thương hiệu hoặc chí ít cũng gặp rắc rối.

Đó là lời khuyên của các chuyên gia Nhật Bản khi đề cập đến quyền sở hữu trí tuệ. Nước Nhật có hệ thống luật pháp về sở hữu trí tuệ khá hoàn chỉnh và các hiệp ước liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ mà Nhật tham gia được áp dụng khá hiệu quả ở đất nước này. Bên cạnh phải tuân thủ các qui định về bản quyền, sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp... khi xuất hàng sang Nhật, các DN Việt Nam cũng cần chú ư đến việc bảo vệ chính ḿnh.

Coi chừng đại lư!

Nước Nhật có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới v́ vậy hệ thống luật pháp của nước này cũng rất hoàn hảo. Các DN cùng với hàng hóa của ḿnh luôn được pháp luật bảo vệ nếu như họ tuân thủ các qui định sở hữu trí tuệ. Đăng kư quyền sở hữu của ḿnh và không vi phạm quyền sở hữu của DN khác chính là cách tốt nhất để thành công ở thị trường này. Nếu không đăng kư th́ hậu quả khó lường.

Ông Hashimoto Yoichi, chuyên gia của Jetro (Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản), cho biết có ít nhất hai khả năng xảy ra đối với một thương hiệu xuất vào Nhật Bản nếu không đăng kư bảo hộ: đó là hàng giả và mất thương hiệu. Theo luật sư chuyên về sở hữu trí tuệ này, khi hàng hóa nhập khẩu nào đó bán chạy trên thị trường lập tức sẽ tạo cơ hội cho hàng giả. Nếu hàng có thương hiệu nổi tiếng th́ việc làm giả xảy ra nhanh chóng. Trong trường hợp này DN xuất khẩu khó khiếu kiện với cơ quan bảo hộ sản phẩm của Nhật Bản v́ họ không có căn cứ để xác định quyền sở hữu đó thuộc về DN xuất khẩu nếu họ chưa đăng kư.

Tuy nhiên, DN có thể đối phó với trường hợp này bằng việc áp dụng luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Nhật. Và để thành công với giải pháp này, DN phải chứng minh được hai yếu tố, một là thương hiệu của ḿnh thuộc loại mạnh và hai là được nhiều người tiêu dùng biết đến. Công việc này quả là không phải DN nào cũng có thể dễ dàng làm được.

Rủi ro thứ hai nếu không thực hiện đăng kư là mất quyền sở hữu. Ông Yoichi cho biết đă có nhiều trường hợp DN bị mất quyền sở hữu v́ bị DN Nhật đăng kư, thậm chí đó là đối tác làm lâu năm với ḿnh. Ông đưa ví dụ một công ty sản xuất bánh tráng. Công ty này có đối tác Nhật Bản làm ăn lâu năm và mối quan hệ giữa họ khá tốt. Thế rồi một hôm, đối tác Nhật Bản cự tuyệt sản phẩm của đối tác nước ngoài làm người bạn hàng ngỡ ngàng không hiểu nguyên do. DN xuất khẩu tội nghiệp cuối cùng cũng hiểu ra được ḿnh đă bị đối tác "chơi khăm". Đại lư Nhật Bản này đă lén đăng kư quyền sở hữu sáng chế đối với sản phẩm của nhà cung cấp lâu năm cho ḿnh và nghiễm nhiên đi kiện DN xuất khẩu bánh tráng v́ đă xâm phạm quyền sở hữu của người khác.

Sự "chểnh mảng" của cơ quan đăng kư

Theo qui định về quyền sở hữu trí tuệ ở Nhật, trong thời gian thẩm định có 3 chế độ dành cho người khiếu kiện và người bị khiếu kiện. Chế độ cấm nhập và chế độ thế chấp giành áp dụng đối với người khiếu kiện. Người khiếu kiện được quyền đề nghị hải quan không cho nhập và để được quyền này họ phải thực hiện quyền thứ hai là thế chấp giá trị tài sản hoặc tiền bạc. Nếu trong trường hợp oan sai đối với hàng nhập khẩu, giá trị thế chấp sẽ được sử dụng để bồi thường cho nhà nhập khẩu hoặc chủ hàng. Chế độ thứ ba, thông quan giải phóng hàng dành cho nhà nhập khẩu. Theo đó, nếu nhà nhập khẩu thế chấp một giá trị tài sản hoặc tiền bạc tương đương với giá trị yêu cầu bồi thường của người khiếu kiện th́ được giải phóng hàng hóa khỏi giai đoạn thẩm định. Khi đó việc thẩm định xem như chấm dứt nếu người khiếu kiện đă nhận đủ tiền thế chấp.

Luật sư Yoichi nói rằng ở Nhật nguyên tắc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là giống và tương tự. Điều này có nghĩa một sản phẩm giống hoặc tương tự sản phẩm đă đăng kư đều bị từ chối. Tuy nhiên cũng có trường hợp sản phẩm giống hoặc tương tự nhưng cũng được bảo hộ. Đó là do sự chểnh mảng của cơ quan đăng kư khi không kiểm tra được hết các sản phẩm đă được bảo hộ ở nước ngoài. Cơ quan đăng kư đồng ư cấp quyền sở hữu trí tuệ đối với một sản phẩm đă được đăng kư ở nước khác có tham gia hiệp ước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với Nhật Bản.

"Về mặt nguyên tắc, cho phép đăng kư và bảo hộ như vậy là không đúng. Khả năng kiểm tra một quyền sở hữu trí tuệ đă được xác lập ở quốc gia khác trở nên khó khăn với cơ quan đăng kư v́ vậy đây cũng là trường hợp DN cần chú ư", ông Yoichoi nhận định.

Theo luật sư Yoichi, đối với trường hợp này, DN cần phải có văn bản chứng minh về quyền đă được xác lập ở Việt Nam rằng ḿnh đă sản xuất sản phẩm đó ở Việt Nam trước khi một DN nào đó đăng kư nó ở Nhật Bản.

Khi một sản phẩm bị khiếu kiện là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp... đă được xác lập ở Nhật Bản th́ sản phẩm đó sẽ bị hải quan không cho nhập khẩu vào quốc gia này để tiến hành thủ tục thẩm định. Theo chuyên gia Nhật Bản, các cơ quan chức năng của Nhật tiến hành thẩm định trong ṿng 1 tháng để xác định sản phẩm nhập khẩu có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hay không. Nếu kết luận là có, th́ hàng hóa bị cấm nhập vào Nhật. C̣n đă qua được hải quan, hàng hóa vi phạm sẽ bị tịch thu và tiêu hủy; ngoài ra người nhập khẩu c̣n phải bồi thường. Nhà nhập khẩu có 2 tháng sau khi có kết luận vi phạm để tự xử lư hàng hóa vi phạm như xé bỏ nhăn vi phạm..., nếu không thực hiện th́ cơ quan chức năng Nhật Bản sẽ làm.

Nguồn tin lấy từ: www.agroviet.gov.vn

Advertisement

Công ty tư vấn luật LEADCO

 

  

Footer

Cá nhân và tổ chức sử dụng thông tin của SMEnet phải ghi rơ địa chỉ http://www.SMEnet.com.vn

Góp ư xin gửi thư về webmaster@smenet.com.vn

Web site này do Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) hợp tác phát triển