|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 15
(Tuần từ
7/11/2005-13/11/2005)
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng
kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
1. Sản phẩm mới ra thị trường ... thành công nhờ lixăng
Ngày nay, người tiêu dùng càng có nhiều cơ hội lựa chọn quyết định
trước khi mua một món hàng nào đó, dù là dụng cụ gia đ́nh, ôtô, thực
phẩm hay đồ điện tử, điện thoại di động v.v...
Chính trong cái thế giới muôn màu muôn vẻ của hàng hoá th́ các
thương hiệu sẽ giúp cho người tiêu dùng có định hướng và tâm lư an
tâm khi mua hàng. Nhiều thương hiệu đă trở nên nổi tiếng thế giới
trước hết không phải v́ chất lượng có một không hai của ḿnh mà đă
biết sử dụng chính sách lixăng thương hiệu một cách triệt để như các
thương hiệu Coca Cola, Calvin Klein, Microsoft...
Với sự biến động và cạnh tranh trên thị trường, việc xây dựng một
thương hiệu mới gần như không có tính khả thi về mặt tài chính. Các
chuyên gia cho rằng muốn xây dựng trong ṿng 3 năm một thương hiệu
sản phẩm hàng hoá mới và đạt được một tỉ lệ phổ biến toàn cầu 20%
th́ cần phải đầu tư chừng 70 triệu USD.
Đó là một khoản chi phí có thể nói không một nhà kinh doanh nào có
thể chấp nhận được. Đến một lúc nào đó, giá trị sử dụng của một hàng
hoá khó có thể tăng được nữa và giá cả th́ không thể giảm măi được
cho dù luôn luôn được áp dụng các công nghệ kỹ thuật hiện đại nhất
và giá thành giảm đến tối đa.
Đôi bên cùng có lợi
Chính v́ lư do chi phí quá lớn mỗi khi đưa một thương hiệu sản phẩm
mới vào thị trường mà các nhà doanh nghiệp ngày càng tập trung nhiều
hơn vào việc tận dụng các tiềm năng sẵn có. Đó chính là việc mua
lixăng của các thương hiệu sản phẩm cùng loại nhưng đă thành danh,
đă có những nhóm đối tượng khách hàng nhất định, những kênh phân
phối hàng ổn định thường xuyên.
Thông thường trước khi ra quyết định mua lixăng một thương hiệu sẵn
có th́ nhà doanh nghiệp, giám đốc marketing, giám đốc phân phối bán
hàng đă phải đau đầu nghiên cứu thị trường, tính toán xem việc xây
dựng một thương hiệu mới và đưa vào thị trường có thực sự hiệu quả
hay không? Thương hiệu mới có thể sử dụng các kênh phân phối hàng có
sẵn được hay không hay nhất thiết cần có những kênh phân phối hàng
riêng?
Để giải quyết vấn đề này người ta đă chọn một giải pháp ít rủi ro
hơn khi đưa một sản phẩm mới vào thị trường. Đó là hợp tác với một
đối tác hiểu rơ loại sản phẩm mới này cũng như thị trường của nó.
Sản phẩm mới sẽ được nhận một thương hiệu sẵn có của sản phẩm cùng
loại trên cơ sở hợp đồng mua lixăng giữa các bên đối tác kinh doanh.
Nhờ đó mà người ta có thể đưa được sản phẩm tương xứng với một
thương hiệu sẵn có một cách nhanh chóng và nhà doanh nghiệp sẽ tiết
kiệm được nhiều thời gian và chi phí để tiếp cận và khẳng định sản
phẩm của ḿnh.
V́ vậy không có ǵ ngạc nhiên khi ngày càng nhiều sản phẩm mới, có
công dụng tính năng mới, h́nh thức mới nhưng lại mang một thương
hiệu có sẵn. Người tiêu dùng th́ vẫn cho rằng nhà sản xuất của
thương hiệu có sẵn đă cải tiến sản phẩm của ḿnh hay đưa ra sản phẩm
thế hệ mới.
Các h́nh thức mua bán lixăng thương hiệu.
Dạng mua bán lixăng được sử dụng nhiều nhất ở Mỹ là mua bán lixăng
thương hiệu, tức là đối tượng thoả thuận mua bán ở đây là quyền sử
dụng một thương hiệu, tên tuổi hàng hoá sẵn có.
Theo hợp đồng, người chủ sở hữu thương hiệu cho phép một người khác
khi sản xuất hay phân phối một sản phẩm nào đó được phép dùng thương
hiệu của ḿnh. Như vậy, đồng thời các sản phẩm với thương hiệu sẵn
có của người sở hữu thương hiệu th́ các sản phẩm mới của người mua
lixăng cũng được phổ biến và tiêu thụ trên thị trường.
Ngoài ra c̣n có một dạng mua bán lixăng khác trong đó người sở hữu
lixăng trao toàn bộ quyền sử dụng thương hiệu sẵn có trong cả việc
phát triển sản phẩm, sản xuất và phân phối bán lẻ sản phẩm. Nói cách
khác, là mua bán li xăng toàn bộ công nghệ dây chuyền sản xuất của
sản phẩm.
Tuy nhiên, trong trường hợp này th́ người sở hữu thương hiệu lại vẫn
nắm toàn quyền giám sát chất lượng sản phẩm của người mua lixăng và
đảm nhận việc quảng cáo marketing cho thương hiệu chứ không để cho
người mua lixăng tự quảng cáo. Bởi v́ một thương hiệu chỉ có thể tồn
tại và khẳng định nếu như chất lượng của sản phẩm luôn luôn không
đổi và các được quảng cáo bằng các h́nh thức thích hợp.
Người tiêu dùng thường không biết đến việc mua bán lixăng liên quan
đến các sản phẩm mà họ thường mua. Mấy ai đă biết được rằng doanh
nghiệp nổi tiếng Davidoff không tự sản xuất cho ḿnh nước hoa, đồ nữ
trang, cà phê mà đặt hàng nơi khác. Mấy ai biết được rằng thương
hiệu lừng danh Camel được bán dưới dạng lixăng cho nhiều nhà sản
xuất giày, quần áo, túi xách. Tất nhiên Camel luôn chú ư giám sát để
bảo đảm chất lượng những sản phẩm này theo đúng những tiêu chuẩn của
ḿnh đă được quảng cáo và khẳng định trên thị trường và đối với
người tiêu dùng.
Tóm lại, thay v́ tự xây dựng một thương hiệu riêng, việc mua lixăng
một thương hiệu sẵn có là một chính sách kinh doanh ít rủi ro hơn,
đầu tư ít hơn và nhanh chóng đạt được hiệu quả, mục tiêu đặt ra.
Tác
giả Mai Hạnh
2. Châu Á - miền đất hứa của điện
thoại web vô tuyến
Các công ty viễn thông Châu Âu đang lên cơn sốt khi phải chi trả
hàng chục triệu USD để được quyền triển khai những dịch vụ Internet
vô tuyến tốc độ cao. Động thái này được coi là đi một nước cờ mạo
hiểm trên thị trường đầy rủi ro như Châu Âu.
Năm
2000, Châu Âu đă chi hơn 100 triệu USD để có được quyền triển khai
các dịch vụ 3G và có thể sẽ phải tốn thêm khoảng 80 triệu USD để
nâng cấp hệ thống mạng máy tính kỹ thuật số hiện có. Nhưng ở Châu á,
các công ty sản xuất điện thoại web đang tŕnh làng những sản phẩm
đầu tiên của họ và hầu như không lo ngại về những rủi ro có thể xảy
ra trong tương lai.
Những
rủi ro trong kinh doanh ở Châu á, với những tiến bộ công nghệ, mạng
điện thoại số hoá thống nhất và chi phí cấp lixăng không cao, sẽ
thấp hơn và khu vực này sẽ sản xuất được những sản phẩm rẻ hơn nhiều
so với Châu Âu và Bắc Mỹ. Châu á cũng được coi là mảnh đất màu mỡ để
phát triển công nghệ vô tuyến bởi những tiêu chuẩn của Châu á có
tính quy chuẩn hơn cả Châu Âu và Bắc Mỹ.
Sự phát
triển được coi là thế hệ thứ 3 - 3G - của công nghệ điện thoại di
động sẽ thúc đẩy sự phát triển nhưng cũng đem lại nhiều bất cập trên
toàn thế giới. Hàng triệu USD sẽ đổ vào công nghệ viễn thông để đưa
Internet vô tuyến lên các loại máy Palm với tốc độ truy cập gấp hàng
trăm lần so với hiện nay. Những thế hệ điện thoại di động mới sẽ là
những loại máy tính cầm tay, có chức năng điện thoại, gửi e-mail,
xem phim, chơi game và thậm chí chụp ảnh.
Tuy vậy
vẫn tồn tại một mối lo ngại là chỉ những người giàu mới có thể chi
trả cho những sản phẩm hiện đại đó. Thậm chí c̣n có người cho rằng
các thiết bị 3G sẽ không thể áp đảo được những loại thiết bị i-mode
của Nhật Bản - hoàn toàn áp dụng công nghệ hiện thời và hệ thống
công nghệ cấp tiến. Tại Nhật Bản, khoảng 17 triệu người đang sử dụng
điện thoại i-mode để thực hiện các giao dịch, trao đổi message, gửi
các bức ảnh động và duyệt web. Rất nhiều công ty viễn thông hiện
đang nâng cấp hệ thống mạng của họ thành những hệ thống cấp tiến,
như dịch vụ gói radio toàn cầu (GPRS). Hệ thống này được thiết kế để
truyền dữ liệu với tốc độ gấp 4 đến 6 lần tốc độ tiêu chuẩn hiện tại
và cũng nhanh hơn tốc độ modem 56KB. Khác với các loại điện thoại vô
tuyến hiện nay, các thiết bị cầm tay sử dụng công nghệ này sẽ có khả
năng truy cập tin và xem phim. Chính v́ vậy, có nhiều người sẽ không
muốn bỏ thêm tiền để nâng cấp thành các thiết bị 3G.
Châu á có rất nhiều lợi thế để phát triển mạng điện thoại số hoá
hiện đại nhất nhưng lại rẻ và dễ nâng cấp nhất thế giới. Thậm chí cả
Hoa Kỳ cũng "lạc hậu hơn Châu á" đến hai năm bởi thị trường vô tuyến
rất phân tán. Một số nhà cung cấp của Mỹ cũng đang nỗ lực nâng cấp
hệ thống của ḿnh để cung cấp các loại dịch vụ vô tuyến nhưng những
nhà cung cấp khác lại cần thêm khả năng để bắt đầu triển khai các
dịch vụ video và Internet vô tuyến. Nhưng để thực hiện được, họ phải
chờ đến mùa thu này sau khi quốc hội Mỹ thông qua một lixăng mới.
3. Pierre Cardin - Người có cái tên đắt giá nhất thế giới
Nhiều người
nói tên ông được biết đến không kém ǵ Napoléon. Nhưng khác với
Napoléon là một nhân vật lịch sử, tên ông là một thương hiệu hàng
hoá nổi danh khắp 5 châu.
Người đàn ông đó -
một trong 5 người Pháp nổi tiếng nhất thế giới - là Pierre Cardin.
Là một thiên tài tạo mẫu, đương nhiên thương hiệu Pierre Cardin được
dùng trước hết cho các sản phẩm may mặc. Nhưng không chỉ có thế, cái
tên của ḿnh đă được thiên tài kinh doanh Pierre Cardin dùng cho tới
gần 1.000 sản phẩm khác nhau.
Con số thống kê cho thấy trên thế giới có tới 180 nước sử dụng hàng
hoá mang thương hiệu của Pierre Cardin. Tập đoàn kinh doanh của
Pierre Cardin hiện có tới hơn 200.000 người làm việc, mỗi năm đem về
hàng chục triệu USD lợi nhuận. Bên cạnh các xí nghiệp sản xuất hàng
dệt may, Pierre Cardin c̣n sở hữu vô số các nhà hàng, các cửa hàng
cao cấp ở nhiều nơi.
Rất đáng kể trong số tài sản của Pierre Cardin là 50 ngôi nhà nghệ
thuật độc đáo và kỳ dị, được coi như là những viện bảo tàng hay nhà
trưng bày cá nhân của riêng Pierre Cardin. Palais Bulles là một công
tŕnh nghệ thụât như thế của Pierre Cardin, được ông xây dựng trong
ṿng 6 năm với sự trợ giúp của kiến trúc sư Antti Lovag, ngườiTây
Ban Nha. Mỗi góc nhà, mỗi đồ dùng trong nhà như một tác phẩm nghệ
thuật nhưng lại mang thương hiệu Pierre Cardin.
Từ anh thợ
may khéo tay...
Pierre Cardin là
người Pháp, gốc Italia. Ông sinh ngày 22/7/1922 tại Callalta, một
thị trấn vùng Đông Bắc nước Italia. Sau đó, gia đ́nh ông chuyển sang
Pháp sinh sống tại Grenoben. Lúc đầu, Pierre Cardin học nghề kế toán
nhưng không kiếm được việc làm ở vùng quê. Cuộc sống khó khăn, ông
bỏ lên chốn đô thị Paris với hi vọng đổi đời. Nhưng nghề kế toán
cũng chẳng giúp ích được ǵ cho ông.
Và như một sự t́nh cờ, Pierre Cardin lần đầu tiên đến với thế giới
may mặc và thời trang khi ông may mắn được vào làm phụ việc tại một
tiệm may gia đ́nh. Pierre Cardin chịu khó học hỏi và đă trở thành
một thợ cắt và may khá lành nghề. Ông đă có thể nhận các đơn hàng
đặc biệt của khách hàng.
Vào năm sau chàng thợ may trẻ Pierre Cardin bỏ tiệm may gia đ́nh để
xin vào làm việc cho xưởng may của nhà thời trang Christian Dior đă
khá nổi danh lúc bấy giờ. Chỉ đến lúc này, Pierre Cardin mới bắt đầu
được thâm nhập vào thế giới thời trang thực sự. Trước đó, Pierre
Cardin vẫn chỉ là một anh thợ may khéo tay chuyên cắt may hàng chợ
cho người b́nh dân. Môi trường làm việc tại Christian Dior đă giúp
cho Pierre Cardin phát triển rất nhanh trong lĩnh vực nghệ thuật tạo
mốt. Nhiều ư tưởng mới lạ trong Pierre Cardin đă được h́nh thành và
nuôi dưỡng trong thời kỳ này.
Thế nhưng từ lúc nào không biết, trong Pierre Cardin, bên cạnh cái
máu nghệ thuật c̣n có một máu kinh doanh. Hơn 3 năm sau, năm 1950,
Pierre Cardin mở ngay một tiệm may riêng cho ḿnh. Nhưng đó không
phải là một tiệm may b́nh thường mà là một tiệm may thời trang thực
thụ cho những đơn đặt hàng đặc biệt của khách hàng. Ông tự ḿnh
thiết kế và cắt vải. C̣n may th́ thuê thợ. Đôi bàn tay khéo léo và
trí tưởng tượng vô hạn của một nghệ sĩ đă giúp ông có được những mẫu
mă quần áo độc nhất vô nhị.
Nhiều nhà hát, nhà diễn kịch đă đến đặt Pierre Cardin may những bộ
trang phục đặc biệt cho tác phẩm của ḿnh. Sự thành công của những
tác phẩm biểu diễn và sự nổi tiếng của các diễn viên đă càng làm nổi
tiếng thêm tên tuổi của nhà may Pierre Cardin.
Thành nhà kinh doanh xuất chúng
Có thể nói Pierre
Cardin là xuất chúng v́ khả năng sáng tạo nghệ thuật và tài năng
kinh doanh ở ông đồng thời phát triển và không hề cản trở lẫn nhau.
Không những thế, ông c̣n biết kết hợp tài t́nh hai khả năng hiếm có
mà trời đă phú cho ông. Mọi ư tưởng nghệ thuật đều được Pierre
Cardin đưa vào kinh doanh và kết quả kinh doanh lại để phát triển
nghệ thuật sáng tạo. Cũng giống như trong sáng tạo nghệ thuật thiết
kế trang phục, Pierre Cardin luôn t́m ư tưởng mới trong kinh doanh
và quyết tâm thực hiện bằng được.
Từ một người thợ học mót tại Christian Dior, Pierre Cardin đă nhanh
chóng trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng nể. Trong nghệ thuật,
việc làm khác người là điều đương nhiên. Nhưng cả trong kinh doanh,
Pierre Cardin cũng luôn nghĩ và luôn muốn làm như vậy. Lần đầu tiên,
năm 1957, Pierre Cardin phá lệ cũ của các nhà may thời trang. Ông
cung cấp đồ may sẵn cho các cửa hàng quần áo, siêu thị cao cấp.
Pierre Cardin đă bị các nhà may thời trang khác phản ứng dữ dội bởi
sự cách tân của ông bị coi là “phản bội” và phá giá hàng thời trang.
Nhưng nhà kinh doanh Pierre Cardin vẫn kiên định với chiến lược táo
bạo của ḿnh. Pierre Cardin đă không làm mất đi giá trí thương hiệu
thời trang của ḿnh mà chỉ làm nó được phổ cập hơn và điều quan
trọng là Pierre Cardin đă biết biến sự nổi danh của thương hiệu
thành tiền. Kể từ đó người ta bắt đầu thấy xuất hiện hàng may mặc
thời trang mang tên Pierre Cardin trong một số cửa hàng, siêu thị
cao cấp. Sự dũng cảm đi tiên phong trên thương trường của Pierre
Cardin đă được trả giá xứng đáng. Quần áo mang tên ông bán chạy như
tôm tươi cho dù không rẻ chút nào.
Pierre Cardin đă có những nhận định thị trường rất chính xác khi cho
rằng rất nhiều người có nhu cầu sử dụng hàng hiệu nhưng không có
điều kiện để đặt may riêng với giá thành bằng cả một năm thu nhập
của người thường. Một hướng đi mới trong kinh doanh cho các nhà tạo
mẫu thời trang đă được Pierre Cardin phát kiến và triển khai thành
công. Bản thân các nhà tạo mẫu thời trang khác sau này cũng phải
thán phục Pierre Cardin và cũng làm theo cách này. Các xưởng may của
Pierre Cardin từ đó cứ được mở rộng ra không ngừng để cung cấp hàng
cho hệ thống đại lư của Pierre Cardin.
Để ǵn giữ và nâng cao thương hiệu của ḿnh, Pierre Cardin đă rất
khắt khe trong việc chọn lựa các vị trí đặt cửa hàng và kư hợp đồng
đại lư. Chỉ có những nơi sang trọng bậc nhất, những siêu thị hay
trung tâm thương mại có tiếng nhất mới là nơi Pierre Cardin bán hàng
của ḿnh. Pierre Cardin có nhiều ư tưởng để tiếp thị hàng hoá của
ḿnh... Tại các cửa hàng thời trang riêng, Pierre Cardin luôn chú ư
tạo ra một phong cách nghệ thuật độc đáo và sang trọng.
Chẳng hạn, ông ưa dùng màu sắc nổi bật, ông sử dụng những bức tượng
tuyệt tác để bên cạnh những chiếc sơ mi hay bộ váy đầm mang tên
Pierre Cardin. Ông thoả thuận đặt những tủ kính trưng bày hàng của
ḿnh tại nhiều nhà hàng, khách sạn sang trọng nhất. Để làm việc này,
lúc đầu Pierre Cardin đă tham gia góp vốn vào nhà hàng Maxim’s nổi
tiếng. Sau này ông c̣n t́m cách mua lại toàn bộ nhà hàng này.
Ông trùm kinh
doanh thương hiệu
Với Pierre Cardin,
ư tưởng kinh doanh nối tiếp ư tưởng kinh doanh. Khi đă thâm nhập vào
nhiều hệ thống nhà hàng, trung tâm thương mại cao cấp th́ Pierre
Cardin không bỏ mọi cơ hội mới, dù nhỏ nhất. Từ thương hiệu chỉ dành
cho quần áo thời trang, Pierre Cardin đă sử dụng cái tên của ḿnh
cho vô số hàng hoá khác. Đó có thể là đồ trang sức, túi xách tay,
đồng hồ, bút máy hay chiếc bật lửa.
Cái tên Pierre Cardin lại c̣n dùng cho tất cả các đồ dùng trang trí
nội thất như chăn ga gối, đệm, rèm cửa. Rồi đến các thiết bị nhà tắm,
đồ gỗ cũng có sản phẩm mang tên Pierre Cardin. Rất nhiều thực phẩm
cao cấp, rồi cả nồi xoong bát đĩa đều có thể mang tên thương hiệu
Pierre Cardin danh giá. Có những sản phẩm gần như độc nhất vô nhị
cũng được mang tên ông để kinh doanh như ngôi nhà kiến trúc kiểu
Pierre Cardin, chiếc ô tô sang trọng Cadillac hay một chiếc tàu thuỷ
du lịch tráng lệ cũng được mang tên Pierre Cardin.
Vào cuối những năm 70 của thế kỷ 20, khi đă mua được toàn bộ hệ
thống nhà hàng Maxim’s nổi tiếng, Pierre Cardin đă tận dụng mọi cơ
hội để sử dụng thương hiệu danh giá mang tên ông cho mọi sản phẩm.
Tại hệ thống nhà hàng này, người ta c̣n có thể thưởng thức những
chai rượu cognac, ly cà phê sữa và những món ăn đặc saèn mang tên
Pierre Cardin.
Khi thành công với hệ thống các cửa hàng riêng, không dừng ở đó,
Pierre Cardin bắt đầu có ư tưởng bán li-xăng thương hiệu Pierre
Cardin của ḿnh. Các hợp đồng mang thương hiệu Pierre Cardin bắt đầu
chủ yếu ở các sản phẩm quần áo thời trang, sau đó là các sản phẩm
hàng hoá khác.
Pierre Cardin được biết đến là một người lao động cần mẫn và bền bỉ.
Một ngày ông làm việc tới 15 tiếng đồng hồ. Trước kia là sáng tạo
nghệ thuật, c̣n về sau, chủ yếu là dành để kinh doanh. Khi đă ngoài
70 tuổi, Pierre Cardin vẫn tỏ ra là một nhà kinh doanh nhạy cảm và
quyết đoán. Đợt tŕnh diễn thời trang Pierre Cardin tại Quảng trường
Đỏ ở Mascơva năm 1991 trước hơn 200.000 người xem đă đem lại những
quyết định chiến lược rất đúng đắn. Ông tăng cường phát triển ra
Đông Âu và ra ngoài châu Âu. Thương hiệu Pierre Cardin giờ được thấy
khắp ở Đông Âu, Nga, Trung Quốc và nhiều nước khác trên toàn thế
giới.
Đặc biệt từ những năm 90, ở nhiều nước châu Á khác đă xuất hiện
thương hiệu danh giá này trên cơ sở hợp đồng sử dụng lixăng. Ngay cả
ở Việt Nam, cũng có công ty kư kết được hợp đồng này như công ty An
Phước. Tuỳ từng loại hợp đồng mà Pierre Cardin thu phí sử dụng
lixăng khác nhau, nhưng thông thường là từ 7-10% doanh thu bán hàng.
Càng những năm về sau, nguồn thu từ kinh doanh thương hiệu càng
chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu của Tập đoàn Pierre Cardin.
Ngoài 80 tuổi, nhưng hàng ngày Pierre Cardin vẫn đến văn pḥng. Ông
tự hào về thương hiệu Pierre Cardin do tự tay ḿnh xây dựng qua
nhiều năm. Ông không c̣n hay tự viết những lá thư nhưng vẫn theo dơi
cụ thể biểu đồ lên xuống của giá cả. Từ hơn 1 năm nay, đă có rất
nhiều tập đoàn quốc tế đến đàm phán để mua đứt toàn bộ thương hiệu
lừng danh này. Pierre Cardin có vẻ cũng muốn bán tập đoàn của ḿnh
khi không c̣n tự điều hành được tất cả như xưa.
Vấn đề chỉ c̣n là giá cả, như ông đă nhiều lần thông tin cho báo
giới và công luận. Là một nhà kinh doanh xuất sắc, ông biết đàm phán
thế nào để có được nhiều nhất từ cái tên đắt giá nhất thế giới của
ḿnh.
4. Ngành sản xuất nguyên liệu thuốc lá của một số nước trên
thế giới
T́nh h́nh sản xuất nguyên
liệu thuốc lá của một số nước trên thế giới Trung Quốc Trung Quốc là
nước sản xuất nguyên liệu thuốc lá lớn nhất thế giới. Trong những
năm gần đây, sản lượng nguyên liệu b́nh quân đạt trên 2,3 triệu tấn/năm.
Nguyên liệu thuốc lá được trồng tập trung ở các tỉnh phía Nam Trung
Quốc: Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, An Huy... Hiện nay, Trung Quốc
có khoảng 300 triệu người nghiện thuốc lá và tiêu thụ được 1.800 tỷ
điếu/năm. Ngành sản xuất thuốc lá có liên quan đến số công nhân làm
việc trong 200 nhà máy thuốc lá và 10 triệu nông dân trồng thuốc lá.
Để có thể quản lư ngành Thuốc lá từ trung ương đến địa phương, năm
1981, Chính phủ Trung Quốc đă ban hành một số quy định về quản lư
ngành Thuốc lá, tháng 1/1982, Chính phủ đă thành lập Tổng Công ty
Thuốc lá Trung Quốc và tháng 1/1984, thành lập Cục Độc quyền Thuốc
lá Nhà nước. Cục Độc quyền Thuốc lá Nhà nước Trung Quốc là đơn vị
hành chính cao nhất quản lư ngành Thuốc lá, trực thuộc Quốc Vụ viện
Trung Quốc. Cơ cấu tổ chức quản lư của Cục Độc quyền Thuốc lá trải
dài theo chiều dọc từ Trung ương -> Tỉnh -> Châu, Khu -> Huyện, đồng
thời có sự phân cấp về quản lư giữa Cục Độc quyền các cấp.Xác định
thuốc lá là loại hàng hóa đặc biệt, có tác dụng kích thích, tạo sự
hưng phấn và ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng, nhưng trong
xă hội hiện nay, mặt hàng này là nhu cầu có thật, do vậy, Chính phủ
Trung Quốc phải tăng cường quản lư và kiểm soát chặt chẽ hơn nữa để
đảm bảo sức khỏe cho nhân dân và mang lại hiệu quả cao cho nền kinh
tế. Năm 1991 - 1992, Chính phủ Trung Quốc đă tiến hành soạn thảo và
ban hành Luật Độc quyền Thuốc lá.
Luật Độc quyền thuốc lá nhằm mục đích kiểm soát và bảo vệ ngành
Thuốc lá. Nhà nước quản lư ngành Thuốc lá theo Luật Độc quyền, từ
khâu sản xuất- kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm đến xuất khẩu đều phải
tuân thủ theo quy định của Luật và thể hiện ở 3 điểm chủ yếu sau:
Quản lư, lănh đạo thống nhất; Quản lư cả theo chiều dọc và chiều
ngang, trong đó lấy quản lư dọc theo chuyên ngành làm chủ đạo;
Chuyên doanh, chuyên bán.
Kể từ khi Trung Quốc thực hiện Luật Độc quyền thuốc lá và Điều lệ
thực thi kèm theo, cho đến nay, cùng với quá tŕnh sắp xếp lại,
ngành Thuốc lá Trung Quốc đă có bước phát triển vượt bậc. Việc kiểm
soát tác hại của thuốc lá đến sức khỏe người tiêu dùng cũng chặt chẽ
hơn, hàm lượng Tar và Nicôtin trong thuốc lá đă giảm đáng kể.
Các nhà máy sản xuất thuốc lá đă được đầu tư đổi mới công nghệ, nên
thuốc lá Trung Quốc có thể cạnh tranh và chiếm lĩnh hoàn toàn thị
trường trong nước.
Cơ chế quản lư ngành Thuốc lá của Trung Quốc là cơ chế quản lư đặc
biệt, mang màu sắc hành chính, thể hiện ở 3 đặc trưng sau:
* Kế hoạch: Ngành Thuốc lá Trung Quốc có sự kế hoạch hóa và
chuyên môn hóa cao, thực hiện lập kế hoạch từ khâu trồng nguyên liệu,
sấy lá, sản xuất sản phẩm thuốc điếu, kinh doanh và xuất nhập khẩu.
Hàng năm, Cục Độc quyền Nhà nước Trung Quốc xem xét, nghiên cứu nhu
cầu thị trường, chỉ đạo Cục Độc quyền các địa phương xây dựng kế
hoạch sản xuất- kinh doanh, có căn cứ vào điều kiện thực tế của mỗi
tỉnh. Sau đó, Cục Độc quyền Trung ương tổng hợp thành kế hoạch của
toàn ngành tŕnh ủy ban Kế hoạch Nhà nước xem xét phê duyệt; Sau khi
tiến hành thẩm định trên cơ sở đề nghị của Cục Độc quyền Thuốc lá
Nhà nước, ủy ban Kế hoạch Nhà nước sẽ phê duyệt và giao kế hoạch cho
các tỉnh. Căn cứ vào kế hoạch được giao, các đơn vị triển khai trồng
nguyên liệu và sản xuất thuốc lá điếu, và chỉ được phép thực hiện
theo kế hoạch sản xuất được giao. Tuy nhiên, cũng có sự điều chỉnh
kế hoạch tùy vào t́nh h́nh sản xuất - kinh doanh của các doanh
nghiệp trong quá tŕnh thực hiện kế hoạch; Mỗi nhà máy sản xuất
thuốc lá điếu được giao cho sản xuất vài nhăn thuốc nhất định,
trường hợp phát triển sản phẩm mới th́ phải báo cáo cho Cục Độc
quyền.
* Quản lư có giấy phép: Theo Luật Độc quyền của Trung Quốc,
tất cả 9 loại sản phẩm gồm thuốc điếu, thuốc x́ gà, thuốc lá sợi,
thuốc lá sấy lại, thuốc lá, giấy vấn thuốc lá, đầu lọc, sợi làm đầu
lọc, thiết bị chuyên dùng trong ngành Thuốc lá đều phải có giấy phép
sản xuất - kinh doanh.
* Quản lư về thuế và giá cả: Trung Quốc đă thực hiện chính
sách đánh thuế cao để quản lư. Giá nguyên liệu làm cơ sở cho việc
mua bán sẽ do ủy ban Vật giá Nhà nước ban hành, trên cơ sở đề nghị
của Cục Độc quyền Thuốc lá, giá thu mua này sẽ được quy định cho
từng vùng và theo từng cấp loại (hiện nay có 40 cấp thuốc lá lá)
Mỹ
Là nước có sản lượng thuốc lá đứng sau Trung Quốc, đồng thời cũng là
nước xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá hàng đầu thế giới. Hiện nay, 25%
số dân Mỹ nghiện thuốc lá. Thuốc lá vàng có chất lượng tốt đều tập
trung ở Mỹ (các bang Virginia, Carolina) hoặc những giống có nguồn
gốc từ Mỹ. Việc sản xuất nguyên liệu đă được cơ giới hóa và tự động
hóa hoàn chỉnh.
Ấn Độ
Trong số 97 nước sản xuất nguyên liệu thuốc lá trên thế giới, ấn Độ
đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Mỹ, chiếm từ 8 - 10% sản lượng nguyên
liệu của thế giới. Mỗi năm, ấn Độ xuất khẩu được hơn 70.000 tấn
nguyên liệu. Diện tích trồng thuốc lá hàng năm đạt từ 430.000 -
450.000 ha, trong đó có 150.000 ha trồng thuốc Virginia để phục vụ
cho xuất khẩu. Thuốc lá Virginia của ấn Độ được trồng trên đất thịt,
có 50 - 60% thành phần sét, độ pH từ 7,5 đến 7,8. Chính phủ ấn Độ
rất quan tâm đến mức giá sàn nguyên liệu thuốc lá để làm cơ sở cho
việc sản xuất và tiêu thụ, mức độ kiểm soát của Chính phủ thông qua
ủy ban Thuốc lá (Cơ quan điều hành thuốc lá của Chính phủ) đối với
sản xuất và tiêu thụ, sẽ tùy vào từng chủng loại nguyên liệu thuốc
lá. (Xem bảng)
Zimbabwe
Năm 1903, thuốc lá mới được trồng ở Zimbabwe, một quốc gia có 10
triệu dân, có đất liền bao quanh, nằm trên độ cao miền Trung Phi,
một vùng có thời tiết thay đổi... Đến nay, trải qua một thế kỷ,
ngành sản xuất thuốc lá ở Zimbabwe đă thành công nhất trên thế giới.
Số lượng thuốc lá lá xuất khẩu đạt hơn 90% tổng sản lượng, đă đem về
cho quốc gia này một nguồn ngoại tệ lớn, thu hút khả năng lao động,
tiết kiệm ngoại tệ, đủ nguyên liệu cung cấp cho sản xuất thuốc điếu...
Năm 2002, giá trị của thuốc lá chiếm tỷ trọng 15% của GDP nước này.
Nổi bật trong tổ chức sản xuất ngành nguyên liệu thuốc lá ở Zimbabwe
là vai tṛ của Hiệp hội Thuốc lá Zimbabwe (ZTA), là đầu mối cung cấp
thông tin cho người sản xuất, thống nhất giá cả thu mua để hạn chế
cạnh tranh, quản lư giá xuất khẩu nguyên liệu nhằm đảm bảo hiệu quả
cao nhất... Với cơ chế quản lư đúng đắn, ngành Thuốc lá của Zimbabwe
đă khắc phục được các điều bất lợi về điều kiện tự nhiên của vùng,
để trở thành một đấu thủ thế giới. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây,
cùng với chính sách cải cách ruộng đất của Chính phủ, sản lượng
trồng thuốc lá đă giảm mạnh, điều đó cho thấy, những chính sách của
Nhà nước đă có tác động rất lớn đến sản xuất nguyên liệu thuốc lá.
Các nước ASEAN
Hầu hết các nước thành viên của ASEAN đều sản xuất thuốc lá. Đặc
điểm chung của sản xuất thuốc lá trong khối ASEAN là sử dụng nguyên
liệu nội địa để sản xuất thuốc lá điếu nhăn hiệu trong nước, các mác
thuốc sản xuất theo lixăng nước ngoài cũng có sử dụng một phần
nguyên liệu nội địa. Ngoài việc tự túc một phần nguyên liệu trong
nước, các nước trong khu vực c̣n có nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu
chất lượng cao, khoảng 70.000 tấn/năm. Trong đó, Inđônêxia hàng năm
nhập khoảng 21.000 tấn, Philippin: 20.000 tấn, Thái Lan: 8.000 tấn.
Kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu quản lư sản xuất và kinh doanh
nguyên liệu thuốc lá của các nước trên thế giới.
Qua nghiên cứu thực tiễn phát triển ngành nguyên liệu thuốc lá của
một số nước, có thể rút ra một số kinh nghiệm có tính gợi mở rất bổ
ích đối với Việt Nam trong quá tŕnh hoạch định chiến lược phát
triển ngành nguyên liệu thuốc lá như sau:
Vai tṛ của sản xuất nguyên liệu thuốc lá: Sản xuất nguyên liệu
thuốc lá là một ngành quan trọng của quốc gia do tính chất đặc thù
của sản phẩm được tạo ra từ cây thuốc lá, nhu cầu sử dụng thuốc lá
trong nước và xuất khẩu đang được mở rộng; Thuốc lá đem lại lợi ích
kinh tế cho nhiều quốc gia. Nhiều tổ chức thuốc lá độc quyền quốc
gia, cũng như các hăng độc quyền sản xuất thuốc lá điếu, nguyên liệu
chế biến, thương mại, dịch vụ..., được h́nh thành nhằm khai thác
triệt để lợi ích kinh tế của thuốc lá; Các nước đang phát triển có
xu hướng tăng sản xuất thuốc lá nguyên liệu hơn các nước phát triển.
Hệ thống sản xuất cây thuốc lá: Hệ thống sản xuất thuốc lá rất khác
nhau, từ những nông trại lớn (Mỹ, Zimbabwe) đến các hộ gia đ́nh nhỏ
(Trung Quốc, ấn Độ...). Hai yếu tố sản xuất nổi bật nhất trong việc
trồng thuốc lá vẫn là đất (có gắn với điều kiện khí hậu) và lao động.
Hai yếu tố này phải phối hợp bằng nhiều cách khác nhau, tùy theo sự
khan hiếm tương đối của chúng. Nét đặc trưng trong sản xuất nhỏ là
lạm dụng lao động (tức là sử dụng lao động chân tay nhiều hơn),
trong khi đó, ở những nông trại lớn th́ lại hạn chế lao động chân
tay và chủ yếu là lao động theo mùa (đặc biệt là thời gian thu hoạch).
ở những nông trại lớn, nguyên liệu đầu vào như phân bón, thuốc trừ
sâu... là hết sức quan trọng, trong khi những nhà sản xuất nhỏ th́
sử dụng rất ít.
Xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá: Bất kỳ một quốc gia nào, dù xuất
khẩu nguyên liệu thuốc lá hàng đầu th́ cũng cần phải nhập khẩu một
khối lượng nguyên liệu thuốc lá cần thiết để đảm bảo sản xuất thuốc
lá trong nước. Lư do có thể là nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất các
nhăn thuốc lá ngoại nhập hoặc dùng để phối chế với các loại nguyên
liệu trong nước, để tạo ra những sản phẩm thuốc lá đặc trưng riêng.
Mặt khác, do cân đối cung cầu nguyên liệu thuốc lá trong nước hoặc
do sự hạn chế sản xuất thuốc lá mà nhiều nước có xu hướng đẩy mạnh
xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá trên thị trường thế giới, vừa đảm bảo
tăng thu ngoại tệ, vừa giải quyết được công ăn việc làm cho người
lao động, nhất là khu vực nông thôn, đây là h́nh thức phổ biến ở các
quốc gia nông nghiệp.
Sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước:ở hầu hết các nước sản xuất
thuốc lá, Chính phủ luôn đóng vai tṛ quan trọng và hết sức tích cực
trong ngành công nghiệp này. ở một vài quốc gia (đặc biệt là Trung
Quốc), Chính phủ kiểm soát hoàn toàn việc trồng và buôn bán nguyên
liệu thuốc lá. Trong khi đó, ở các quốc gia khác, các ủy ban hoặc
hiệp hội dưới sự ảnh hưởng của Chính phủ, họ thực hiện việc điều
hành có kiểm soát ngành công nghiệp này. Các định chế đặc trưng
thường là Cơ quan kiểm soát độc quyền thuốc lá, ủy ban marketing hay
Quỹ b́nh ổn.
5. Dietrich Mateschitz: Trở thành
tỉ phú nhờ…nước tăng lực!
Như từ dưới đất chui lên, nước uống tăng lực Red Bull đột
nhiên xuất hiện trên thị trường nước giải khát vốn đầy sự cạnh tranh
khốc liệt. Ông chủ của nó là Dietrich Mateschitz.
Công ty nước uống tăng lực Red Bull được Dietrich Mateschitz thành
lập năm 1987. Trong một lần đi nghỉ tại Hồng Kông năm 1983, lần đầu
tiên Dietrich Mateschitz đă được thưởng thức một thứ nước uống kỳ
diệu tại quán bar của khách sạn Mandarin Oriental. Nước uống có vị
ngọt sắc nhưng uống xong người ta có cảm giác khỏe, sảng khoái và
phấn chấn lên.
Một ư tưởng bất ngờ đă loé ngay trong đầu Mateschitz. Ông t́m cách
học ngay công thức chế loại nước uống mới lạ trên. Nhưng lúc này thứ
nước giải khát trên đă được đăng kư và Mateschitz quyết định mua
lixăng độc quyền sản xuất tại châu Âu.Cùng với nhà đầu tư nổi tiếng
người Thái Lan Chaleo Yoovidhya, Mateschitz quyết tâm sản xuất thứ
nước tăng lực này để bán tại thị trường châu Âu. Sau một hai năm đầu,
Red Bull đă khẳng định trên thị trường quê nhà và Dietrich
Mateschitz đă có biệt danh Mr. Red Bull.
Đầu những năm 90 người ta chứng kiến một sự tăng trưởng ngoạn mục
của Red Bull. Đặc biệt thức uống này đă tràn sang các nước châu Âu
một cách nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng. Hiện Redbull có mặt tại
hơn 70 nước trên thế giới và bán được hơn 1,5 tỉ lon mỗi năm. Doanh
số của tập đoàn đă lên tới con số 1,2 tỉ Euro với hàng ngh́n công
nhân sản xuất trực tiếp.
Dietrich Mateschitz đă giàu lên nhanh chóng. Với tài sản ước chừng
trên 1 tỉ USD, ông hiện nay là người giàu nhất nước Áo. Nhà đầu tư
người Thái Lan Chaleo Yoovidhya hiện cũng đang là người giàu nhất
Thái Lan với tài sản 1,6 tỉ USD.
Quyết tâm thử sức trên thương trường
Dietrich Mateschitz sinh ngày 20 tháng 5 năm 1944 tại vùng Steirer
của nước Áo. Vất vả lắm Dietrich mới vào được trường đại học. Ông
không hề chí thú với việc học hành. Do vậy măi mười năm sau ông mới
có được tấm bằng cử nhân kinh tế. Bù lại, Mateschitz là người có khả
năng nói và thuyết phục rất tốt. Chính v́ thế mà ông đă chọn chuyên
ngành Marketing, lĩnh vực có vẻ hợp với ông nhất.
Khi phát hiện ra thứ nước uống đặc biệt, Mateschitz đang làm giám
đốc Marketing của Blendax, một tập đoàn lớn chuyên sản xuất thuốc
đánh răng, dầu gội đầu và mỹ phẩm. Mateschitz đă sớm nhận thấy rằng
thứ nước uống này sẽ là một mỏ vàng nếu như tạo dựng được một thương
hiệu tương xứng.
Là giám đốc marketing của một tập đoàn lớn với một mức lương rất hậu
hĩnh nhưng Mateschitz vẫn luôn ao ước có ngày được tự lập kinh doanh.
Mateschitz muốn được tự ra các quyết định kinh doanh và làm chủ thời
gian của ḿnh. Và lúc này, khi ư tưởng sản xuất nước tăng lực xuất
hiện là thời cơ đă chín muồi với ông.
Năm 1984 công ty TNHH Red Bull ra đời. Dietrich Mateschitz lấy h́nh
ảnh của chú ḅ tót đỏ dũng mănh đang thi đấu để đặt tên và biểu
tượng cho loại nước uống giải khát và tăng lực của ḿnh.
Tài t́nh xây dựng thương hiệu
Không có được một công thức bí mật như Coca Cola và cũng chẳng có
được cả trăm năm truyền thống nhưng sự khẳng định của thương hiệu
Redbull đều làm những người quan tâm đều ngỡ ngàng và khâm phục.
Không ít người cho rằng nước uống Red Bull không có ǵ quá đặc biệt
về giá trị sản phẩm. Thậm chí đây là thứ nước uống quá ngọt so với
khẩu vị của người Áo và người châu Âu. Các vấn đề bí quyết và công
nghệ cũng không có ǵ là thật đặc sắc. V́ vậy các nhà phân tích kinh
tế đều nhất trí khẳng định yếu tố thành công hàng đầu của nước uống
tăng lực Red Bull chính là nghệ thuật marketing tài t́nh của người
khai sinh ra nó. Xác định Red Bull là thức nước uống trước hết cho
những người chơi thể thao và đam mê thể thao, Mateschitz đă rất chú
ư thông qua thể thao để xây dựng h́nh ảnh thương hiệu sản phẩm.
Mateschitz rất ham đua xe hơi và ông cũng là một tay đua không tồi.
Chính v́ vậy mà Mateschitz đă đưa được Redbull về với môn thể thao
đầy hấp dẫn này. Các giải đua xe hơi lớn là công cụ quan trọng nhất
để Mateschitz quảng bá, khuếch trương những lon nước ngọt đặc biệt
của ḿnh. Mateschitz đă kư kết được những hợp đồng lâu dài với các
hăng xe hơi nổi tiếng như Porsche, Volksgen để tạo thành một liên
minh quảng cáo thương hiệu. Mateschitz đặc biệt có quan hệ rất tốt
với các chủ tịch tập đoàn xe ô tô này nên ông đă tự tin đứng ra tổ
chức những giải đua xe công thức 1 riêng mà Red Bull là nhà tài trợ
chính.
Các chương tŕnh quảng cáo này khá tốn kém và đ̣i hỏi sự chuẩn bị
rất công phu. Nhưng Mateschitz ư thức được rằng chỉ có thế ông mới
đưa được một sản phẩm mới “toanh” như Red Bull vào thị trường.
Quảng cáo liên tục và khắp nơi
Để có được một thương hiệu nổi danh trong một thời gian, với kinh
nghiệm của một nhà marketing lăo luyện cùng với một sự tự tin đến
táo bạo, Mateschitz không tiếc tiền cho quảng cáo. Ông thực hiện mọi
biện pháp, mọi công cụ để giới thiệu và khuyếch trương sản phẩm của
ḿnh.
Ngay trong năm đầu tiên khi xuất hiện đại trà trên thị trường, Red
Bull đă bán khá chạy. Doanh số đem về là 11 triệu Schilling. Thế
nhưng thực ra Mateschitz vẫn chịu lỗ v́ tiền chi quảng cáo trong năm
lên tới hơn 14 triệu Schilling. Nhưng tất cả những con số đó đă đều
được Mateschitz dự tính trước nên ông không hề thất vọng hay chùn
bước.
Khi được hỏi phỏng vấn về việc có quá liều lĩnh khi đầu tư một ngân
sách khổng lồ vào một sản phẩm mới toanh như Red Bull th́ Mateschitz
đă rất tự tin trả lời. Theo đó, Mateschitz khẳng định bằng cảm nhận
của ḿnh, ông rát tin vào sản phẩm Red Bull. Mateschitz tiết lộ rằng
ông đă không sao chép như nguyên công thức của nước uống tăng lực
Lipovitan mà ông đă mua lixăng công thức pha chế.
Không phải ai cũng biết, nhưng sự thực là Mateschitz cũng đă mất hơn
hai năm chuẩn bị, điều chỉnh công thức cho thật phù hợp với người
châu Âu. Mateschitz khẳng định tác dụng rất tốt của sản phẩm với ví
dụ sau khi bay đường dài xuyên lục địa người uống sẽ có cảm giác dễ
chịu trở lại. Trong thành phần của Red Bull có một tỉ lệ nhất định
Coffein và Taurin là hai chất chủ yếu có tác dụng gây phấn chấn,
sảng khoái.
Mateschitz luôn luôn quảng cáo trước khi tung sản phẩm ra bán. Chính
v́ vậy mà tại nhiều thị trường mới, khi Red Bull chưa có bán nhưng
tên sản phẩm đă được khách hàng nhận biết. Nhiều kết quả khảo sát
Marketing đă minh chứng hiệu quả quảng cáo đến kinh ngạc của Red
Bull. Gần 60% khách hàng tiềm năng đă biết về thứ nước uống này dù
họ chưa thử bao giờ v́ chưa có bán. Chính v́ vậy mà tất cả các siêu
thị đều đă đặt hàng của Mateschitz từ rất lâu để bảo đảm siêu thị
cũng có bán Red Bull.
Những con số thống kê và đánh giá về hiệu quả quảng cáo của Red Bull
đă làm các nhà nghiên cứu và chuyên gia Marketing phải thán phục.
Mateschitz và sản phẩm Red Bull của ông được coi là những ví dụ mẫu
mực về Marketing hiện đại trong kinh tế thị trường. Mateschitz được
đánh giá cao v́ ông thực ra không quảng cáo để bán một sản phẩm mà
đă quảng cáo để bán một cảm giác sảng khoái, phấn khích, hưởng thụ
cho người tiêu dùng. Điều đó đă kích thích rất lớn sự ṭ ṃ muốn thử
lần đầu của nhiều đối tượng khách hàng. Đây là điều không phải ai
cũng làm được mỗi khi có sản phẩm mới.
Tất cả các chiến dịch quảng cáo công phu, bài bản và khá tốn kém của
Mateschitz đă được trả giá xứng đáng. Red Bull vào thị trường nào là
thành công luôn ở đó. Năng lực sản xuất của Red Bull đă nhanh chóng
lên tới 500 triệu lon mỗi năm. Đă có thời kỳ nhu cầu tiêu thụ quá
lớn nhưng Red Bull không có đủ vỏ lon để sản xuất. Các nhà cung ứng
vỏ lon nước không ngờ khả năng tiêu thụ của Red Bull lại tăng nhanh
như vậy, vượt qua mọi dự đoán dễ dăi nhất. Trong thời gian đó
Mateschitz đă phải cho nhập vỏ lon từ các công ty nước ngoài.
Chiếm lĩnh thị trường quốc tế
Mặc dù rất khó khăn trong việc có được giấy phép nhưng cũng như thị
trường Áo, Red Bull đă thâm nhập thị trường các nước châu Âu khác
với qui mô lan toả rất nhanh.
Thuỵ Sĩ, Anh, Đức và các nước Trung Âu, Đông Âu là những nơi mà Red
Bull khẳng định ưu thế của ḿnh nhanh hơn mong đợi. V́ là nước uống
tăng lực nên Mateschitz phải làm thủ tục xin được cấp phép tại từng
nước. Có nước mất một hai năm, có nước thậm chí lâu tới 7, 8 năm.
Nhưng Mateschitz đă khôn khéo tận dụng thời gian chờ cấp phép để
quảng cáo, xúc tiến đón đầu thị trường. Chính v́ vậy khi có phép là
Red Bull được khách hàng đón nhận rất tích cực. Ngay cả những tranh
căi trên công luận về thành phần của Red Bull cũng được nhà
Marketing cáo già này khai thác tận dụng để quảng cáo cho sản phẩm
của ḿnh.
Thị trường nước Mỹ rất lớn nhưng từ bao năm nay dường như đó là thế
giới riêng của Coca Cola và Pepsi Cola. Nhưng Mateschitz không hề
ngán chuyện đó. Những thành công ở châu Âu lại càng làm cho ông tin
hơn vào sản phẩm của ḿnh sẽ rất hợp thị trường Mỹ. Đây là thị
trường lớn với số lượng khách hàng giới trẻ đầy tiềm năng cho Red
Bull.
V́ vậy, các chiêu quảng cáo và Marketing lại được tung ra.
Mateschitz tự tin và táo bạo tổ chức cả các giải đua xe công thức 1
rất hoành tráng ngay trên đất Mỹ. Nhờ vậy mà Red Bull “đổ bộ” được
vào thị trường Mỹ cũng không phải là quá khó khăn. Và ông chủ
Mateschitz lại c̣n có nhiều cơ hội hơn nữa để thử nghiệm các ư tưởng
phong phú và đầy sáng tạo về quảng bá và marketing của ḿnh.
Với những thành công và kinh nghiệm đă có, Mateschitz hoàn toàn có
quyền mơ đến lúc chiếm lĩnh thị trường Mỹ như ông đă đạt được với
thị trường châu Âu. Một mục tiêu đầy thách thức nhưng không phải là
bất khả thi với Guenther Mateschitz, người đă làm nên một thương
hiệu Red Bull nổi tiếng.
Nguồn
tin lấy từ: v8x.net |