Home-Left Menu
Home-HorizontalMenu

BẢN TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 15
(Tuần từ 7/11/2005-13/11/2005)

(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật LEADCO)

Địa chỉ: 85 Trần Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email: leadco@hn.vnn.vn

 

Để luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy bấm vào đây. Để được tư vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy bấm vào đây.


1. Sản phẩm mới ra thị trường ... thành công nhờ lixăng

Ngày nay, người tiêu dùng càng có nhiều cơ hội lựa chọn quyết định trước khi mua một món hàng nào đó, dù là dụng cụ gia đ́nh, ôtô, thực phẩm hay đồ điện tử, điện thoại di động v.v...
Chính trong cái thế giới muôn màu muôn vẻ của hàng hoá th́ các thương hiệu sẽ giúp cho người tiêu dùng có định hướng và tâm lư an tâm khi mua hàng. Nhiều thương hiệu đă trở nên nổi tiếng thế giới trước hết không phải v́ chất lượng có một không hai của ḿnh mà đă biết sử dụng chính sách lixăng thương hiệu một cách triệt để như các thương hiệu Coca Cola, Calvin Klein, Microsoft...

Với sự biến động và cạnh tranh trên thị trường, việc xây dựng một thương hiệu mới gần như không có tính khả thi về mặt tài chính. Các chuyên gia cho rằng muốn xây dựng trong ṿng 3 năm một thương hiệu sản phẩm hàng hoá mới và đạt được một tỉ lệ phổ biến toàn cầu 20% th́ cần phải đầu tư chừng 70 triệu USD.
Đó là một khoản chi phí có thể nói không một nhà kinh doanh nào có thể chấp nhận được. Đến một lúc nào đó, giá trị sử dụng của một hàng hoá khó có thể tăng được nữa và giá cả th́ không thể giảm măi được cho dù luôn luôn được áp dụng các công nghệ kỹ thuật hiện đại nhất và giá thành giảm đến tối đa.

Đôi bên cùng có lợi

Chính v́ lư do chi phí quá lớn mỗi khi đưa một thương hiệu sản phẩm mới vào thị trường mà các nhà doanh nghiệp ngày càng tập trung nhiều hơn vào việc tận dụng các tiềm năng sẵn có. Đó chính là việc mua lixăng của các thương hiệu sản phẩm cùng loại nhưng đă thành danh, đă có những nhóm đối tượng khách hàng nhất định, những kênh phân phối hàng ổn định thường xuyên.

Thông thường trước khi ra quyết định mua lixăng một thương hiệu sẵn có th́ nhà doanh nghiệp, giám đốc marketing, giám đốc phân phối bán hàng đă phải đau đầu nghiên cứu thị trường, tính toán xem việc xây dựng một thương hiệu mới và đưa vào thị trường có thực sự hiệu quả hay không? Thương hiệu mới có thể sử dụng các kênh phân phối hàng có sẵn được hay không hay nhất thiết cần có những kênh phân phối hàng riêng?
Để giải quyết vấn đề này người ta đă chọn một giải pháp ít rủi ro hơn khi đưa một sản phẩm mới vào thị trường. Đó là hợp tác với một đối tác hiểu rơ loại sản phẩm mới này cũng như thị trường của nó. Sản phẩm mới sẽ được nhận một thương hiệu sẵn có của sản phẩm cùng loại trên cơ sở hợp đồng mua lixăng giữa các bên đối tác kinh doanh. Nhờ đó mà người ta có thể đưa được sản phẩm tương xứng với một thương hiệu sẵn có một cách nhanh chóng và nhà doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí để tiếp cận và khẳng định sản phẩm của ḿnh.
V́ vậy không có ǵ ngạc nhiên khi ngày càng nhiều sản phẩm mới, có công dụng tính năng mới, h́nh thức mới nhưng lại mang một thương hiệu có sẵn. Người tiêu dùng th́ vẫn cho rằng nhà sản xuất của thương hiệu có sẵn đă cải tiến sản phẩm của ḿnh hay đưa ra sản phẩm thế hệ mới.

Các h́nh thức mua bán lixăng thương hiệu.

Dạng mua bán lixăng được sử dụng nhiều nhất ở Mỹ là mua bán lixăng thương hiệu, tức là đối tượng thoả thuận mua bán ở đây là quyền sử dụng một thương hiệu, tên tuổi hàng hoá sẵn có.

Theo hợp đồng, người chủ sở hữu thương hiệu cho phép một người khác khi sản xuất hay phân phối một sản phẩm nào đó được phép dùng thương hiệu của ḿnh. Như vậy, đồng thời các sản phẩm với thương hiệu sẵn có của người sở hữu thương hiệu th́ các sản phẩm mới của người mua lixăng cũng được phổ biến và tiêu thụ trên thị trường.
Ngoài ra c̣n có một dạng mua bán lixăng khác trong đó người sở hữu lixăng trao toàn bộ quyền sử dụng thương hiệu sẵn có trong cả việc phát triển sản phẩm, sản xuất và phân phối bán lẻ sản phẩm. Nói cách khác, là mua bán li xăng toàn bộ công nghệ dây chuyền sản xuất của sản phẩm.

Tuy nhiên, trong trường hợp này th́ người sở hữu thương hiệu lại vẫn nắm toàn quyền giám sát chất lượng sản phẩm của người mua lixăng và đảm nhận việc quảng cáo marketing cho thương hiệu chứ không để cho người mua lixăng tự quảng cáo. Bởi v́ một thương hiệu chỉ có thể tồn tại và khẳng định nếu như chất lượng của sản phẩm luôn luôn không đổi và các được quảng cáo bằng các h́nh thức thích hợp.
Người tiêu dùng thường không biết đến việc mua bán lixăng liên quan đến các sản phẩm mà họ thường mua. Mấy ai đă biết được rằng doanh nghiệp nổi tiếng Davidoff không tự sản xuất cho ḿnh nước hoa, đồ nữ trang, cà phê mà đặt hàng nơi khác. Mấy ai biết được rằng thương hiệu lừng danh Camel được bán dưới dạng lixăng cho nhiều nhà sản xuất giày, quần áo, túi xách. Tất nhiên Camel luôn chú ư giám sát để bảo đảm chất lượng những sản phẩm này theo đúng những tiêu chuẩn của ḿnh đă được quảng cáo và khẳng định trên thị trường và đối với người tiêu dùng.
Tóm lại, thay v́ tự xây dựng một thương hiệu riêng, việc mua lixăng một thương hiệu sẵn có là một chính sách kinh doanh ít rủi ro hơn, đầu tư ít hơn và nhanh chóng đạt được hiệu quả, mục tiêu đặt ra.

Tác giả Mai Hạnh

2. Châu Á - miền đất hứa của điện thoại web vô tuyến

Các công ty viễn thông Châu Âu đang lên cơn sốt khi phải chi trả hàng chục triệu USD để được quyền triển khai những dịch vụ Internet vô tuyến tốc độ cao. Động thái này được coi là đi một nước cờ mạo hiểm trên thị trường đầy rủi ro như Châu Âu.

Năm 2000, Châu Âu đă chi hơn 100 triệu USD để có được quyền triển khai các dịch vụ 3G và có thể sẽ phải tốn thêm khoảng 80 triệu USD để nâng cấp hệ thống mạng máy tính kỹ thuật số hiện có. Nhưng ở Châu á, các công ty sản xuất điện thoại web đang tŕnh làng những sản phẩm đầu tiên của họ và hầu như không lo ngại về những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai.

Những rủi ro trong kinh doanh ở Châu á, với những tiến bộ công nghệ, mạng điện thoại số hoá thống nhất và chi phí cấp lixăng không cao, sẽ thấp hơn và khu vực này sẽ sản xuất được những sản phẩm rẻ hơn nhiều so với Châu Âu và Bắc Mỹ. Châu á cũng được coi là mảnh đất màu mỡ để phát triển công nghệ vô tuyến bởi những tiêu chuẩn của Châu á có tính quy chuẩn hơn cả Châu Âu và Bắc Mỹ.

Sự phát triển được coi là thế hệ thứ 3 - 3G - của công nghệ điện thoại di động sẽ thúc đẩy sự phát triển nhưng cũng đem lại nhiều bất cập trên toàn thế giới. Hàng triệu USD sẽ đổ vào công nghệ viễn thông để đưa Internet vô tuyến lên các loại máy Palm với tốc độ truy cập gấp hàng trăm lần so với hiện nay. Những thế hệ điện thoại di động mới sẽ là những loại máy tính cầm tay, có chức năng điện thoại, gửi e-mail, xem phim, chơi game và thậm chí chụp ảnh.

Tuy vậy vẫn tồn tại một mối lo ngại là chỉ những người giàu mới có thể chi trả cho những sản phẩm hiện đại đó. Thậm chí c̣n có người cho rằng các thiết bị 3G sẽ không thể áp đảo được những loại thiết bị i-mode của Nhật Bản - hoàn toàn áp dụng công nghệ hiện thời và hệ thống công nghệ cấp tiến. Tại Nhật Bản, khoảng 17 triệu người đang sử dụng điện thoại i-mode để thực hiện các giao dịch, trao đổi message, gửi các bức ảnh động và duyệt web. Rất nhiều công ty viễn thông hiện đang nâng cấp hệ thống mạng của họ thành những hệ thống cấp tiến, như dịch vụ gói radio toàn cầu (GPRS). Hệ thống này được thiết kế để truyền dữ liệu với tốc độ gấp 4 đến 6 lần tốc độ tiêu chuẩn hiện tại và cũng nhanh hơn tốc độ modem 56KB. Khác với các loại điện thoại vô tuyến hiện nay, các thiết bị cầm tay sử dụng công nghệ này sẽ có khả năng truy cập tin và xem phim. Chính v́ vậy, có nhiều người sẽ không muốn bỏ thêm tiền để nâng cấp thành các thiết bị 3G.

Châu á có rất nhiều lợi thế để phát triển mạng điện thoại số hoá hiện đại nhất nhưng lại rẻ và dễ nâng cấp nhất thế giới. Thậm chí cả Hoa Kỳ cũng "lạc hậu hơn Châu á" đến hai năm bởi thị trường vô tuyến rất phân tán. Một số nhà cung cấp của Mỹ cũng đang nỗ lực nâng cấp hệ thống của ḿnh để cung cấp các loại dịch vụ vô tuyến nhưng những nhà cung cấp khác lại cần thêm khả năng để bắt đầu triển khai các dịch vụ video và Internet vô tuyến. Nhưng để thực hiện được, họ phải chờ đến mùa thu này sau khi quốc hội Mỹ thông qua một lixăng mới.

3. Pierre Cardin - Người có cái tên đắt giá nhất thế giới

Nhiều người nói tên ông được biết đến không kém ǵ Napoléon. Nhưng khác với Napoléon là một nhân vật lịch sử, tên ông là một thương hiệu hàng hoá nổi danh khắp 5 châu.

Người đàn ông đó - một trong 5 người Pháp nổi tiếng nhất thế giới - là Pierre Cardin. Là một thiên tài tạo mẫu, đương nhiên thương hiệu Pierre Cardin được dùng trước hết cho các sản phẩm may mặc. Nhưng không chỉ có thế, cái tên của ḿnh đă được thiên tài kinh doanh Pierre Cardin dùng cho tới gần 1.000 sản phẩm khác nhau.
Con số thống kê cho thấy trên thế giới có tới 180 nước sử dụng hàng hoá mang thương hiệu của Pierre Cardin. Tập đoàn kinh doanh của Pierre Cardin hiện có tới hơn 200.000 người làm việc, mỗi năm đem về hàng chục triệu USD lợi nhuận. Bên cạnh các xí nghiệp sản xuất hàng dệt may, Pierre Cardin c̣n sở hữu vô số các nhà hàng, các cửa hàng cao cấp ở nhiều nơi.
Rất đáng kể trong số tài sản của Pierre Cardin là 50 ngôi nhà nghệ thuật độc đáo và kỳ dị, được coi như là những viện bảo tàng hay nhà trưng bày cá nhân của riêng Pierre Cardin. Palais Bulles là một công tŕnh nghệ thụât như thế của Pierre Cardin, được ông xây dựng trong ṿng 6 năm với sự trợ giúp của kiến trúc sư Antti Lovag, ngườiTây Ban Nha. Mỗi góc nhà, mỗi đồ dùng trong nhà như một tác phẩm nghệ thuật nhưng lại mang thương hiệu Pierre Cardin.

Từ anh thợ may khéo tay...

Pierre Cardin là người Pháp, gốc Italia. Ông sinh ngày 22/7/1922 tại Callalta, một thị trấn vùng Đông Bắc nước Italia. Sau đó, gia đ́nh ông chuyển sang Pháp sinh sống tại Grenoben. Lúc đầu, Pierre Cardin học nghề kế toán nhưng không kiếm được việc làm ở vùng quê. Cuộc sống khó khăn, ông bỏ lên chốn đô thị Paris với hi vọng đổi đời. Nhưng nghề kế toán cũng chẳng giúp ích được ǵ cho ông.
Và như một sự t́nh cờ, Pierre Cardin lần đầu tiên đến với thế giới may mặc và thời trang khi ông may mắn được vào làm phụ việc tại một tiệm may gia đ́nh. Pierre Cardin chịu khó học hỏi và đă trở thành một thợ cắt và may khá lành nghề. Ông đă có thể nhận các đơn hàng đặc biệt của khách hàng.
Vào năm sau chàng thợ may trẻ Pierre Cardin bỏ tiệm may gia đ́nh để xin vào làm việc cho xưởng may của nhà thời trang Christian Dior đă khá nổi danh lúc bấy giờ. Chỉ đến lúc này, Pierre Cardin mới bắt đầu được thâm nhập vào thế giới thời trang thực sự. Trước đó, Pierre Cardin vẫn chỉ là một anh thợ may khéo tay chuyên cắt may hàng chợ cho người b́nh dân. Môi trường làm việc tại Christian Dior đă giúp cho Pierre Cardin phát triển rất nhanh trong lĩnh vực nghệ thuật tạo mốt. Nhiều ư tưởng mới lạ trong Pierre Cardin đă được h́nh thành và nuôi dưỡng trong thời kỳ này.
Thế nhưng từ lúc nào không biết, trong Pierre Cardin, bên cạnh cái máu nghệ thuật c̣n có một máu kinh doanh. Hơn 3 năm sau, năm 1950, Pierre Cardin mở ngay một tiệm may riêng cho ḿnh. Nhưng đó không phải là một tiệm may b́nh thường mà là một tiệm may thời trang thực thụ cho những đơn đặt hàng đặc biệt của khách hàng. Ông tự ḿnh thiết kế và cắt vải. C̣n may th́ thuê thợ. Đôi bàn tay khéo léo và trí tưởng tượng vô hạn của một nghệ sĩ đă giúp ông có được những mẫu mă quần áo độc nhất vô nhị.

Nhiều nhà hát, nhà diễn kịch đă đến đặt Pierre Cardin may những bộ trang phục đặc biệt cho tác phẩm của ḿnh. Sự thành công của những tác phẩm biểu diễn và sự nổi tiếng của các diễn viên đă càng làm nổi tiếng thêm tên tuổi của nhà may Pierre Cardin.

Thành nhà kinh doanh xuất chúng

Có thể nói Pierre Cardin là xuất chúng v́ khả năng sáng tạo nghệ thuật và tài năng kinh doanh ở ông đồng thời phát triển và không hề cản trở lẫn nhau. Không những thế, ông c̣n biết kết hợp tài t́nh hai khả năng hiếm có mà trời đă phú cho ông. Mọi ư tưởng nghệ thuật đều được Pierre Cardin đưa vào kinh doanh và kết quả kinh doanh lại để phát triển nghệ thuật sáng tạo. Cũng giống như trong sáng tạo nghệ thuật thiết kế trang phục, Pierre Cardin luôn t́m ư tưởng mới trong kinh doanh và quyết tâm thực hiện bằng được.
Từ một người thợ học mót tại Christian Dior, Pierre Cardin đă nhanh chóng trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng nể. Trong nghệ thuật, việc làm khác người là điều đương nhiên. Nhưng cả trong kinh doanh, Pierre Cardin cũng luôn nghĩ và luôn muốn làm như vậy. Lần đầu tiên, năm 1957, Pierre Cardin phá lệ cũ của các nhà may thời trang. Ông cung cấp đồ may sẵn cho các cửa hàng quần áo, siêu thị cao cấp. Pierre Cardin đă bị các nhà may thời trang khác phản ứng dữ dội bởi sự cách tân của ông bị coi là “phản bội” và phá giá hàng thời trang.
Nhưng nhà kinh doanh Pierre Cardin vẫn kiên định với chiến lược táo bạo của ḿnh. Pierre Cardin đă không làm mất đi giá trí thương hiệu thời trang của ḿnh mà chỉ làm nó được phổ cập hơn và điều quan trọng là Pierre Cardin đă biết biến sự nổi danh của thương hiệu thành tiền. Kể từ đó người ta bắt đầu thấy xuất hiện hàng may mặc thời trang mang tên Pierre Cardin trong một số cửa hàng, siêu thị cao cấp. Sự dũng cảm đi tiên phong trên thương trường của Pierre Cardin đă được trả giá xứng đáng. Quần áo mang tên ông bán chạy như tôm tươi cho dù không rẻ chút nào.
Pierre Cardin đă có những nhận định thị trường rất chính xác khi cho rằng rất nhiều người có nhu cầu sử dụng hàng hiệu nhưng không có điều kiện để đặt may riêng với giá thành bằng cả một năm thu nhập của người thường. Một hướng đi mới trong kinh doanh cho các nhà tạo mẫu thời trang đă được Pierre Cardin phát kiến và triển khai thành công. Bản thân các nhà tạo mẫu thời trang khác sau này cũng phải thán phục Pierre Cardin và cũng làm theo cách này. Các xưởng may của Pierre Cardin từ đó cứ được mở rộng ra không ngừng để cung cấp hàng cho hệ thống đại lư của Pierre Cardin.
Để ǵn giữ và nâng cao thương hiệu của ḿnh, Pierre Cardin đă rất khắt khe trong việc chọn lựa các vị trí đặt cửa hàng và kư hợp đồng đại lư. Chỉ có những nơi sang trọng bậc nhất, những siêu thị hay trung tâm thương mại có tiếng nhất mới là nơi Pierre Cardin bán hàng của ḿnh. Pierre Cardin có nhiều ư tưởng để tiếp thị hàng hoá của ḿnh... Tại các cửa hàng thời trang riêng, Pierre Cardin luôn chú ư tạo ra một phong cách nghệ thuật độc đáo và sang trọng.
Chẳng hạn, ông ưa dùng màu sắc nổi bật, ông sử dụng những bức tượng tuyệt tác để bên cạnh những chiếc sơ mi hay bộ váy đầm mang tên Pierre Cardin. Ông thoả thuận đặt những tủ kính trưng bày hàng của ḿnh tại nhiều nhà hàng, khách sạn sang trọng nhất. Để làm việc này, lúc đầu Pierre Cardin đă tham gia góp vốn vào nhà hàng Maxim’s nổi tiếng. Sau này ông c̣n t́m cách mua lại toàn bộ nhà hàng này.

Ông trùm kinh doanh thương hiệu

Với Pierre Cardin, ư tưởng kinh doanh nối tiếp ư tưởng kinh doanh. Khi đă thâm nhập vào nhiều hệ thống nhà hàng, trung tâm thương mại cao cấp th́ Pierre Cardin không bỏ mọi cơ hội mới, dù nhỏ nhất. Từ thương hiệu chỉ dành cho quần áo thời trang, Pierre Cardin đă sử dụng cái tên của ḿnh cho vô số hàng hoá khác. Đó có thể là đồ trang sức, túi xách tay, đồng hồ, bút máy hay chiếc bật lửa.
Cái tên Pierre Cardin lại c̣n dùng cho tất cả các đồ dùng trang trí nội thất như chăn ga gối, đệm, rèm cửa. Rồi đến các thiết bị nhà tắm, đồ gỗ cũng có sản phẩm mang tên Pierre Cardin. Rất nhiều thực phẩm cao cấp, rồi cả nồi xoong bát đĩa đều có thể mang tên thương hiệu Pierre Cardin danh giá. Có những sản phẩm gần như độc nhất vô nhị cũng được mang tên ông để kinh doanh như ngôi nhà kiến trúc kiểu Pierre Cardin, chiếc ô tô sang trọng Cadillac hay một chiếc tàu thuỷ du lịch tráng lệ cũng được mang tên Pierre Cardin.
Vào cuối những năm 70 của thế kỷ 20, khi đă mua được toàn bộ hệ thống nhà hàng Maxim’s nổi tiếng, Pierre Cardin đă tận dụng mọi cơ hội để sử dụng thương hiệu danh giá mang tên ông cho mọi sản phẩm. Tại hệ thống nhà hàng này, người ta c̣n có thể thưởng thức những chai rượu cognac, ly cà phê sữa và những món ăn đặc saèn mang tên Pierre Cardin.
Khi thành công với hệ thống các cửa hàng riêng, không dừng ở đó, Pierre Cardin bắt đầu có ư tưởng bán li-xăng thương hiệu Pierre Cardin của ḿnh. Các hợp đồng mang thương hiệu Pierre Cardin bắt đầu chủ yếu ở các sản phẩm quần áo thời trang, sau đó là các sản phẩm hàng hoá khác.
Pierre Cardin được biết đến là một người lao động cần mẫn và bền bỉ. Một ngày ông làm việc tới 15 tiếng đồng hồ. Trước kia là sáng tạo nghệ thuật, c̣n về sau, chủ yếu là dành để kinh doanh. Khi đă ngoài 70 tuổi, Pierre Cardin vẫn tỏ ra là một nhà kinh doanh nhạy cảm và quyết đoán. Đợt tŕnh diễn thời trang Pierre Cardin tại Quảng trường Đỏ ở Mascơva năm 1991 trước hơn 200.000 người xem đă đem lại những quyết định chiến lược rất đúng đắn. Ông tăng cường phát triển ra Đông Âu và ra ngoài châu Âu. Thương hiệu Pierre Cardin giờ được thấy khắp ở Đông Âu, Nga, Trung Quốc và nhiều nước khác trên toàn thế giới.
Đặc biệt từ những năm 90, ở nhiều nước châu Á khác đă xuất hiện thương hiệu danh giá này trên cơ sở hợp đồng sử dụng lixăng. Ngay cả ở Việt Nam, cũng có công ty kư kết được hợp đồng này như công ty An Phước. Tuỳ từng loại hợp đồng mà Pierre Cardin thu phí sử dụng lixăng khác nhau, nhưng thông thường là từ 7-10% doanh thu bán hàng. Càng những năm về sau, nguồn thu từ kinh doanh thương hiệu càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu của Tập đoàn Pierre Cardin.
Ngoài 80 tuổi, nhưng hàng ngày Pierre Cardin vẫn đến văn pḥng. Ông tự hào về thương hiệu Pierre Cardin do tự tay ḿnh xây dựng qua nhiều năm. Ông không c̣n hay tự viết những lá thư nhưng vẫn theo dơi cụ thể biểu đồ lên xuống của giá cả. Từ hơn 1 năm nay, đă có rất nhiều tập đoàn quốc tế đến đàm phán để mua đứt toàn bộ thương hiệu lừng danh này. Pierre Cardin có vẻ cũng muốn bán tập đoàn của ḿnh khi không c̣n tự điều hành được tất cả như xưa.
Vấn đề chỉ c̣n là giá cả, như ông đă nhiều lần thông tin cho báo giới và công luận. Là một nhà kinh doanh xuất sắc, ông biết đàm phán thế nào để có được nhiều nhất từ cái tên đắt giá nhất thế giới của ḿnh.

4. Ngành sản xuất nguyên liệu thuốc lá của một số nước trên thế giới

T́nh h́nh sản xuất nguyên liệu thuốc lá của một số nước trên thế giới Trung Quốc Trung Quốc là nước sản xuất nguyên liệu thuốc lá lớn nhất thế giới. Trong những năm gần đây, sản lượng nguyên liệu b́nh quân đạt trên 2,3 triệu tấn/năm. Nguyên liệu thuốc lá được trồng tập trung ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, An Huy... Hiện nay, Trung Quốc có khoảng 300 triệu người nghiện thuốc lá và tiêu thụ được 1.800 tỷ điếu/năm. Ngành sản xuất thuốc lá có liên quan đến số công nhân làm việc trong 200 nhà máy thuốc lá và 10 triệu nông dân trồng thuốc lá.
Để có thể quản lư ngành Thuốc lá từ trung ương đến địa phương, năm 1981, Chính phủ Trung Quốc đă ban hành một số quy định về quản lư ngành Thuốc lá, tháng 1/1982, Chính phủ đă thành lập Tổng Công ty Thuốc lá Trung Quốc và tháng 1/1984, thành lập Cục Độc quyền Thuốc lá Nhà nước. Cục Độc quyền Thuốc lá Nhà nước Trung Quốc là đơn vị hành chính cao nhất quản lư ngành Thuốc lá, trực thuộc Quốc Vụ viện Trung Quốc. Cơ cấu tổ chức quản lư của Cục Độc quyền Thuốc lá trải dài theo chiều dọc từ Trung ương -> Tỉnh -> Châu, Khu -> Huyện, đồng thời có sự phân cấp về quản lư giữa Cục Độc quyền các cấp.Xác định thuốc lá là loại hàng hóa đặc biệt, có tác dụng kích thích, tạo sự hưng phấn và ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng, nhưng trong xă hội hiện nay, mặt hàng này là nhu cầu có thật, do vậy, Chính phủ Trung Quốc phải tăng cường quản lư và kiểm soát chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo sức khỏe cho nhân dân và mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Năm 1991 - 1992, Chính phủ Trung Quốc đă tiến hành soạn thảo và ban hành Luật Độc quyền Thuốc lá.

Luật Độc quyền thuốc lá nhằm mục đích kiểm soát và bảo vệ ngành Thuốc lá. Nhà nước quản lư ngành Thuốc lá theo Luật Độc quyền, từ khâu sản xuất- kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm đến xuất khẩu đều phải tuân thủ theo quy định của Luật và thể hiện ở 3 điểm chủ yếu sau: Quản lư, lănh đạo thống nhất; Quản lư cả theo chiều dọc và chiều ngang, trong đó lấy quản lư dọc theo chuyên ngành làm chủ đạo; Chuyên doanh, chuyên bán.

Kể từ khi Trung Quốc thực hiện Luật Độc quyền thuốc lá và Điều lệ thực thi kèm theo, cho đến nay, cùng với quá tŕnh sắp xếp lại, ngành Thuốc lá Trung Quốc đă có bước phát triển vượt bậc. Việc kiểm soát tác hại của thuốc lá đến sức khỏe người tiêu dùng cũng chặt chẽ hơn, hàm lượng Tar và Nicôtin trong thuốc lá đă giảm đáng kể. Các nhà máy sản xuất thuốc lá đă được đầu tư đổi mới công nghệ, nên thuốc lá Trung Quốc có thể cạnh tranh và chiếm lĩnh hoàn toàn thị trường trong nước.
Cơ chế quản lư ngành Thuốc lá của Trung Quốc là cơ chế quản lư đặc biệt, mang màu sắc hành chính, thể hiện ở 3 đặc trưng sau:

* Kế hoạch: Ngành Thuốc lá Trung Quốc có sự kế hoạch hóa và chuyên môn hóa cao, thực hiện lập kế hoạch từ khâu trồng nguyên liệu, sấy lá, sản xuất sản phẩm thuốc điếu, kinh doanh và xuất nhập khẩu.

Hàng năm, Cục Độc quyền Nhà nước Trung Quốc xem xét, nghiên cứu nhu cầu thị trường, chỉ đạo Cục Độc quyền các địa phương xây dựng kế hoạch sản xuất- kinh doanh, có căn cứ vào điều kiện thực tế của mỗi tỉnh. Sau đó, Cục Độc quyền Trung ương tổng hợp thành kế hoạch của toàn ngành tŕnh ủy ban Kế hoạch Nhà nước xem xét phê duyệt; Sau khi tiến hành thẩm định trên cơ sở đề nghị của Cục Độc quyền Thuốc lá Nhà nước, ủy ban Kế hoạch Nhà nước sẽ phê duyệt và giao kế hoạch cho các tỉnh. Căn cứ vào kế hoạch được giao, các đơn vị triển khai trồng nguyên liệu và sản xuất thuốc lá điếu, và chỉ được phép thực hiện theo kế hoạch sản xuất được giao. Tuy nhiên, cũng có sự điều chỉnh kế hoạch tùy vào t́nh h́nh sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp trong quá tŕnh thực hiện kế hoạch; Mỗi nhà máy sản xuất thuốc lá điếu được giao cho sản xuất vài nhăn thuốc nhất định, trường hợp phát triển sản phẩm mới th́ phải báo cáo cho Cục Độc quyền.
* Quản lư có giấy phép: Theo Luật Độc quyền của Trung Quốc, tất cả 9 loại sản phẩm gồm thuốc điếu, thuốc x́ gà, thuốc lá sợi, thuốc lá sấy lại, thuốc lá, giấy vấn thuốc lá, đầu lọc, sợi làm đầu lọc, thiết bị chuyên dùng trong ngành Thuốc lá đều phải có giấy phép sản xuất - kinh doanh.
* Quản lư về thuế và giá cả: Trung Quốc đă thực hiện chính sách đánh thuế cao để quản lư. Giá nguyên liệu làm cơ sở cho việc mua bán sẽ do ủy ban Vật giá Nhà nước ban hành, trên cơ sở đề nghị của Cục Độc quyền Thuốc lá, giá thu mua này sẽ được quy định cho từng vùng và theo từng cấp loại (hiện nay có 40 cấp thuốc lá lá)

Mỹ

Là nước có sản lượng thuốc lá đứng sau Trung Quốc, đồng thời cũng là nước xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá hàng đầu thế giới. Hiện nay, 25% số dân Mỹ nghiện thuốc lá. Thuốc lá vàng có chất lượng tốt đều tập trung ở Mỹ (các bang Virginia, Carolina) hoặc những giống có nguồn gốc từ Mỹ. Việc sản xuất nguyên liệu đă được cơ giới hóa và tự động hóa hoàn chỉnh.

Ấn Độ

Trong số 97 nước sản xuất nguyên liệu thuốc lá trên thế giới, ấn Độ đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Mỹ, chiếm từ 8 - 10% sản lượng nguyên liệu của thế giới. Mỗi năm, ấn Độ xuất khẩu được hơn 70.000 tấn nguyên liệu. Diện tích trồng thuốc lá hàng năm đạt từ 430.000 - 450.000 ha, trong đó có 150.000 ha trồng thuốc Virginia để phục vụ cho xuất khẩu. Thuốc lá Virginia của ấn Độ được trồng trên đất thịt, có 50 - 60% thành phần sét, độ pH từ 7,5 đến 7,8. Chính phủ ấn Độ rất quan tâm đến mức giá sàn nguyên liệu thuốc lá để làm cơ sở cho việc sản xuất và tiêu thụ, mức độ kiểm soát của Chính phủ thông qua ủy ban Thuốc lá (Cơ quan điều hành thuốc lá của Chính phủ) đối với sản xuất và tiêu thụ, sẽ tùy vào từng chủng loại nguyên liệu thuốc lá. (Xem bảng)

Zimbabwe


Năm 1903, thuốc lá mới được trồng ở Zimbabwe, một quốc gia có 10 triệu dân, có đất liền bao quanh, nằm trên độ cao miền Trung Phi, một vùng có thời tiết thay đổi... Đến nay, trải qua một thế kỷ, ngành sản xuất thuốc lá ở Zimbabwe đă thành công nhất trên thế giới. Số lượng thuốc lá lá xuất khẩu đạt hơn 90% tổng sản lượng, đă đem về cho quốc gia này một nguồn ngoại tệ lớn, thu hút khả năng lao động, tiết kiệm ngoại tệ, đủ nguyên liệu cung cấp cho sản xuất thuốc điếu... Năm 2002, giá trị của thuốc lá chiếm tỷ trọng 15% của GDP nước này. Nổi bật trong tổ chức sản xuất ngành nguyên liệu thuốc lá ở Zimbabwe là vai tṛ của Hiệp hội Thuốc lá Zimbabwe (ZTA), là đầu mối cung cấp thông tin cho người sản xuất, thống nhất giá cả thu mua để hạn chế cạnh tranh, quản lư giá xuất khẩu nguyên liệu nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất... Với cơ chế quản lư đúng đắn, ngành Thuốc lá của Zimbabwe đă khắc phục được các điều bất lợi về điều kiện tự nhiên của vùng, để trở thành một đấu thủ thế giới. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, cùng với chính sách cải cách ruộng đất của Chính phủ, sản lượng trồng thuốc lá đă giảm mạnh, điều đó cho thấy, những chính sách của Nhà nước đă có tác động rất lớn đến sản xuất nguyên liệu thuốc lá.

Các nước ASEAN

Hầu hết các nước thành viên của ASEAN đều sản xuất thuốc lá. Đặc điểm chung của sản xuất thuốc lá trong khối ASEAN là sử dụng nguyên liệu nội địa để sản xuất thuốc lá điếu nhăn hiệu trong nước, các mác thuốc sản xuất theo lixăng nước ngoài cũng có sử dụng một phần nguyên liệu nội địa. Ngoài việc tự túc một phần nguyên liệu trong nước, các nước trong khu vực c̣n có nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu chất lượng cao, khoảng 70.000 tấn/năm. Trong đó, Inđônêxia hàng năm nhập khoảng 21.000 tấn, Philippin: 20.000 tấn, Thái Lan: 8.000 tấn.

Kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu quản lư sản xuất và kinh doanh nguyên liệu thuốc lá của các nước trên thế giới.

Qua nghiên cứu thực tiễn phát triển ngành nguyên liệu thuốc lá của một số nước, có thể rút ra một số kinh nghiệm có tính gợi mở rất bổ ích đối với Việt Nam trong quá tŕnh hoạch định chiến lược phát triển ngành nguyên liệu thuốc lá như sau:
Vai tṛ của sản xuất nguyên liệu thuốc lá: Sản xuất nguyên liệu thuốc lá là một ngành quan trọng của quốc gia do tính chất đặc thù của sản phẩm được tạo ra từ cây thuốc lá, nhu cầu sử dụng thuốc lá trong nước và xuất khẩu đang được mở rộng; Thuốc lá đem lại lợi ích kinh tế cho nhiều quốc gia. Nhiều tổ chức thuốc lá độc quyền quốc gia, cũng như các hăng độc quyền sản xuất thuốc lá điếu, nguyên liệu chế biến, thương mại, dịch vụ..., được h́nh thành nhằm khai thác triệt để lợi ích kinh tế của thuốc lá; Các nước đang phát triển có xu hướng tăng sản xuất thuốc lá nguyên liệu hơn các nước phát triển.

Hệ thống sản xuất cây thuốc lá: Hệ thống sản xuất thuốc lá rất khác nhau, từ những nông trại lớn (Mỹ, Zimbabwe) đến các hộ gia đ́nh nhỏ (Trung Quốc, ấn Độ...). Hai yếu tố sản xuất nổi bật nhất trong việc trồng thuốc lá vẫn là đất (có gắn với điều kiện khí hậu) và lao động. Hai yếu tố này phải phối hợp bằng nhiều cách khác nhau, tùy theo sự khan hiếm tương đối của chúng. Nét đặc trưng trong sản xuất nhỏ là lạm dụng lao động (tức là sử dụng lao động chân tay nhiều hơn), trong khi đó, ở những nông trại lớn th́ lại hạn chế lao động chân tay và chủ yếu là lao động theo mùa (đặc biệt là thời gian thu hoạch). ở những nông trại lớn, nguyên liệu đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu... là hết sức quan trọng, trong khi những nhà sản xuất nhỏ th́ sử dụng rất ít.

Xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá: Bất kỳ một quốc gia nào, dù xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá hàng đầu th́ cũng cần phải nhập khẩu một khối lượng nguyên liệu thuốc lá cần thiết để đảm bảo sản xuất thuốc lá trong nước. Lư do có thể là nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất các nhăn thuốc lá ngoại nhập hoặc dùng để phối chế với các loại nguyên liệu trong nước, để tạo ra những sản phẩm thuốc lá đặc trưng riêng.

Mặt khác, do cân đối cung cầu nguyên liệu thuốc lá trong nước hoặc do sự hạn chế sản xuất thuốc lá mà nhiều nước có xu hướng đẩy mạnh xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá trên thị trường thế giới, vừa đảm bảo tăng thu ngoại tệ, vừa giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động, nhất là khu vực nông thôn, đây là h́nh thức phổ biến ở các quốc gia nông nghiệp.
Sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước:ở hầu hết các nước sản xuất thuốc lá, Chính phủ luôn đóng vai tṛ quan trọng và hết sức tích cực trong ngành công nghiệp này. ở một vài quốc gia (đặc biệt là Trung Quốc), Chính phủ kiểm soát hoàn toàn việc trồng và buôn bán nguyên liệu thuốc lá. Trong khi đó, ở các quốc gia khác, các ủy ban hoặc hiệp hội dưới sự ảnh hưởng của Chính phủ, họ thực hiện việc điều hành có kiểm soát ngành công nghiệp này. Các định chế đặc trưng thường là Cơ quan kiểm soát độc quyền thuốc lá, ủy ban marketing hay Quỹ b́nh ổn.

5. Dietrich Mateschitz: Trở thành tỉ phú nhờ…nước tăng lực!

Như từ dưới đất chui lên, nước uống tăng lực Red Bull đột nhiên xuất hiện trên thị trường nước giải khát vốn đầy sự cạnh tranh khốc liệt. Ông chủ của nó là Dietrich Mateschitz.

Công ty nước uống tăng lực Red Bull được Dietrich Mateschitz thành lập năm 1987. Trong một lần đi nghỉ tại Hồng Kông năm 1983, lần đầu tiên Dietrich Mateschitz đă được thưởng thức một thứ nước uống kỳ diệu tại quán bar của khách sạn Mandarin Oriental. Nước uống có vị ngọt sắc nhưng uống xong người ta có cảm giác khỏe, sảng khoái và phấn chấn lên.

Một ư tưởng bất ngờ đă loé ngay trong đầu Mateschitz. Ông t́m cách học ngay công thức chế loại nước uống mới lạ trên. Nhưng lúc này thứ nước giải khát trên đă được đăng kư và Mateschitz quyết định mua lixăng độc quyền sản xuất tại châu Âu.Cùng với nhà đầu tư nổi tiếng người Thái Lan Chaleo Yoovidhya, Mateschitz quyết tâm sản xuất thứ nước tăng lực này để bán tại thị trường châu Âu. Sau một hai năm đầu, Red Bull đă khẳng định trên thị trường quê nhà và Dietrich Mateschitz đă có biệt danh Mr. Red Bull.

Đầu những năm 90 người ta chứng kiến một sự tăng trưởng ngoạn mục của Red Bull. Đặc biệt thức uống này đă tràn sang các nước châu Âu một cách nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng. Hiện Redbull có mặt tại hơn 70 nước trên thế giới và bán được hơn 1,5 tỉ lon mỗi năm. Doanh số của tập đoàn đă lên tới con số 1,2 tỉ Euro với hàng ngh́n công nhân sản xuất trực tiếp.

Dietrich Mateschitz đă giàu lên nhanh chóng. Với tài sản ước chừng trên 1 tỉ USD, ông hiện nay là người giàu nhất nước Áo. Nhà đầu tư người Thái Lan Chaleo Yoovidhya hiện cũng đang là người giàu nhất Thái Lan với tài sản 1,6 tỉ USD.

Quyết tâm thử sức trên thương trường

Dietrich Mateschitz sinh ngày 20 tháng 5 năm 1944 tại vùng Steirer của nước Áo. Vất vả lắm Dietrich mới vào được trường đại học. Ông không hề chí thú với việc học hành. Do vậy măi mười năm sau ông mới có được tấm bằng cử nhân kinh tế. Bù lại, Mateschitz là người có khả năng nói và thuyết phục rất tốt. Chính v́ thế mà ông đă chọn chuyên ngành Marketing, lĩnh vực có vẻ hợp với ông nhất.

Khi phát hiện ra thứ nước uống đặc biệt, Mateschitz đang làm giám đốc Marketing của Blendax, một tập đoàn lớn chuyên sản xuất thuốc đánh răng, dầu gội đầu và mỹ phẩm. Mateschitz đă sớm nhận thấy rằng thứ nước uống này sẽ là một mỏ vàng nếu như tạo dựng được một thương hiệu tương xứng.

Là giám đốc marketing của một tập đoàn lớn với một mức lương rất hậu hĩnh nhưng Mateschitz vẫn luôn ao ước có ngày được tự lập kinh doanh. Mateschitz muốn được tự ra các quyết định kinh doanh và làm chủ thời gian của ḿnh. Và lúc này, khi ư tưởng sản xuất nước tăng lực xuất hiện là thời cơ đă chín muồi với ông.

Năm 1984 công ty TNHH Red Bull ra đời. Dietrich Mateschitz lấy h́nh ảnh của chú ḅ tót đỏ dũng mănh đang thi đấu để đặt tên và biểu tượng cho loại nước uống giải khát và tăng lực của ḿnh.

Tài t́nh xây dựng thương hiệu

Không có được một công thức bí mật như Coca Cola và cũng chẳng có được cả trăm năm truyền thống nhưng sự khẳng định của thương hiệu Redbull đều làm những người quan tâm đều ngỡ ngàng và khâm phục.

Không ít người cho rằng nước uống Red Bull không có ǵ quá đặc biệt về giá trị sản phẩm. Thậm chí đây là thứ nước uống quá ngọt so với khẩu vị của người Áo và người châu Âu. Các vấn đề bí quyết và công nghệ cũng không có ǵ là thật đặc sắc. V́ vậy các nhà phân tích kinh tế đều nhất trí khẳng định yếu tố thành công hàng đầu của nước uống tăng lực Red Bull chính là nghệ thuật marketing tài t́nh của người khai sinh ra nó. Xác định Red Bull là thức nước uống trước hết cho những người chơi thể thao và đam mê thể thao, Mateschitz đă rất chú ư thông qua thể thao để xây dựng h́nh ảnh thương hiệu sản phẩm.

Mateschitz rất ham đua xe hơi và ông cũng là một tay đua không tồi. Chính v́ vậy mà Mateschitz đă đưa được Redbull về với môn thể thao đầy hấp dẫn này. Các giải đua xe hơi lớn là công cụ quan trọng nhất để Mateschitz quảng bá, khuếch trương những lon nước ngọt đặc biệt của ḿnh. Mateschitz đă kư kết được những hợp đồng lâu dài với các hăng xe hơi nổi tiếng như Porsche, Volksgen để tạo thành một liên minh quảng cáo thương hiệu. Mateschitz đặc biệt có quan hệ rất tốt với các chủ tịch tập đoàn xe ô tô này nên ông đă tự tin đứng ra tổ chức những giải đua xe công thức 1 riêng mà Red Bull là nhà tài trợ chính.

Các chương tŕnh quảng cáo này khá tốn kém và đ̣i hỏi sự chuẩn bị rất công phu. Nhưng Mateschitz ư thức được rằng chỉ có thế ông mới đưa được một sản phẩm mới “toanh” như Red Bull vào thị trường.

Quảng cáo liên tục và khắp nơi

Để có được một thương hiệu nổi danh trong một thời gian, với kinh nghiệm của một nhà marketing lăo luyện cùng với một sự tự tin đến táo bạo, Mateschitz không tiếc tiền cho quảng cáo. Ông thực hiện mọi biện pháp, mọi công cụ để giới thiệu và khuyếch trương sản phẩm của ḿnh.

Ngay trong năm đầu tiên khi xuất hiện đại trà trên thị trường, Red Bull đă bán khá chạy. Doanh số đem về là 11 triệu Schilling. Thế nhưng thực ra Mateschitz vẫn chịu lỗ v́ tiền chi quảng cáo trong năm lên tới hơn 14 triệu Schilling. Nhưng tất cả những con số đó đă đều được Mateschitz dự tính trước nên ông không hề thất vọng hay chùn bước.

Khi được hỏi phỏng vấn về việc có quá liều lĩnh khi đầu tư một ngân sách khổng lồ vào một sản phẩm mới toanh như Red Bull th́ Mateschitz đă rất tự tin trả lời. Theo đó, Mateschitz khẳng định bằng cảm nhận của ḿnh, ông rát tin vào sản phẩm Red Bull. Mateschitz tiết lộ rằng ông đă không sao chép như nguyên công thức của nước uống tăng lực Lipovitan mà ông đă mua lixăng công thức pha chế.

Không phải ai cũng biết, nhưng sự thực là Mateschitz cũng đă mất hơn hai năm chuẩn bị, điều chỉnh công thức cho thật phù hợp với người châu Âu. Mateschitz khẳng định tác dụng rất tốt của sản phẩm với ví dụ sau khi bay đường dài xuyên lục địa người uống sẽ có cảm giác dễ chịu trở lại. Trong thành phần của Red Bull có một tỉ lệ nhất định Coffein và Taurin là hai chất chủ yếu có tác dụng gây phấn chấn, sảng khoái.

Mateschitz luôn luôn quảng cáo trước khi tung sản phẩm ra bán. Chính v́ vậy mà tại nhiều thị trường mới, khi Red Bull chưa có bán nhưng tên sản phẩm đă được khách hàng nhận biết. Nhiều kết quả khảo sát Marketing đă minh chứng hiệu quả quảng cáo đến kinh ngạc của Red Bull. Gần 60% khách hàng tiềm năng đă biết về thứ nước uống này dù họ chưa thử bao giờ v́ chưa có bán. Chính v́ vậy mà tất cả các siêu thị đều đă đặt hàng của Mateschitz từ rất lâu để bảo đảm siêu thị cũng có bán Red Bull.

Những con số thống kê và đánh giá về hiệu quả quảng cáo của Red Bull đă làm các nhà nghiên cứu và chuyên gia Marketing phải thán phục. Mateschitz và sản phẩm Red Bull của ông được coi là những ví dụ mẫu mực về Marketing hiện đại trong kinh tế thị trường. Mateschitz được đánh giá cao v́ ông thực ra không quảng cáo để bán một sản phẩm mà đă quảng cáo để bán một cảm giác sảng khoái, phấn khích, hưởng thụ cho người tiêu dùng. Điều đó đă kích thích rất lớn sự ṭ ṃ muốn thử lần đầu của nhiều đối tượng khách hàng. Đây là điều không phải ai cũng làm được mỗi khi có sản phẩm mới.

Tất cả các chiến dịch quảng cáo công phu, bài bản và khá tốn kém của Mateschitz đă được trả giá xứng đáng. Red Bull vào thị trường nào là thành công luôn ở đó. Năng lực sản xuất của Red Bull đă nhanh chóng lên tới 500 triệu lon mỗi năm. Đă có thời kỳ nhu cầu tiêu thụ quá lớn nhưng Red Bull không có đủ vỏ lon để sản xuất. Các nhà cung ứng vỏ lon nước không ngờ khả năng tiêu thụ của Red Bull lại tăng nhanh như vậy, vượt qua mọi dự đoán dễ dăi nhất. Trong thời gian đó Mateschitz đă phải cho nhập vỏ lon từ các công ty nước ngoài.

Chiếm lĩnh thị trường quốc tế

Mặc dù rất khó khăn trong việc có được giấy phép nhưng cũng như thị trường Áo, Red Bull đă thâm nhập thị trường các nước châu Âu khác với qui mô lan toả rất nhanh.

Thuỵ Sĩ, Anh, Đức và các nước Trung Âu, Đông Âu là những nơi mà Red Bull khẳng định ưu thế của ḿnh nhanh hơn mong đợi. V́ là nước uống tăng lực nên Mateschitz phải làm thủ tục xin được cấp phép tại từng nước. Có nước mất một hai năm, có nước thậm chí lâu tới 7, 8 năm. Nhưng Mateschitz đă khôn khéo tận dụng thời gian chờ cấp phép để quảng cáo, xúc tiến đón đầu thị trường. Chính v́ vậy khi có phép là Red Bull được khách hàng đón nhận rất tích cực. Ngay cả những tranh căi trên công luận về thành phần của Red Bull cũng được nhà Marketing cáo già này khai thác tận dụng để quảng cáo cho sản phẩm của ḿnh.

Thị trường nước Mỹ rất lớn nhưng từ bao năm nay dường như đó là thế giới riêng của Coca Cola và Pepsi Cola. Nhưng Mateschitz không hề ngán chuyện đó. Những thành công ở châu Âu lại càng làm cho ông tin hơn vào sản phẩm của ḿnh sẽ rất hợp thị trường Mỹ. Đây là thị trường lớn với số lượng khách hàng giới trẻ đầy tiềm năng cho Red Bull.

V́ vậy, các chiêu quảng cáo và Marketing lại được tung ra. Mateschitz tự tin và táo bạo tổ chức cả các giải đua xe công thức 1 rất hoành tráng ngay trên đất Mỹ. Nhờ vậy mà Red Bull “đổ bộ” được vào thị trường Mỹ cũng không phải là quá khó khăn. Và ông chủ Mateschitz lại c̣n có nhiều cơ hội hơn nữa để thử nghiệm các ư tưởng phong phú và đầy sáng tạo về quảng bá và marketing của ḿnh.

Với những thành công và kinh nghiệm đă có, Mateschitz hoàn toàn có quyền mơ đến lúc chiếm lĩnh thị trường Mỹ như ông đă đạt được với thị trường châu Âu. Một mục tiêu đầy thách thức nhưng không phải là bất khả thi với Guenther Mateschitz, người đă làm nên một thương hiệu Red Bull nổi tiếng
.

Nguồn tin lấy từ: v8x.net

Advertisement

Công ty tư vấn luật LEADCO

 

  

Footer

Cá nhân và tổ chức sử dụng thông tin của SMEnet phải ghi rơ địa chỉ http://www.SMEnet.com.vn

Góp ư xin gửi thư về webmaster@smenet.com.vn

Web site này do Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) hợp tác phát triển