|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 12
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư
nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
1. Bùng nhùng” sở hữu trí tuệ
“Thực trạng doanh nghiệp (DN) bị vướng về quyền sở hữu trí tuệ (SHTT)
khi sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa trong quá tŕnh hội
nhập kinh tế quốc tế đang là một vấn đề rất phổ biến và bức xúc. Thế
nhưng, nhiều DN hiện chưa nắm bắt được một cách cụ thể các quy định
của pháp luật về SHTT cũng như vai tṛ của nó trong quá tŕnh sản
xuất, kinh doanh”, bà Trương Thùy Trang, Phó giám đốc Sở Khoa học và
Công nghệ TP.HCM cảnh báo.
Hai vấn đề lâu nay
khiến DN hay “bùng nhùng” về SHTT là việc chuyển giao công nghệ, mua
bán thiết bị, máy móc - có bao gồm các đối tượng sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp (mẫu mă); và những vấn đề nảy sinh trong quá tŕnh xác
lập và bảo vệ quyền đối với Sáng chế, Giải pháp hữu ích, Nhăn hiệu,
Kiểu dáng, Tên thương mại…
Trong các tranh
chấp về SHTT thời gian qua, th́ tranh chấp về kiểu dáng công nghiệp
là phức tạp nhất. Điển h́nh là vụ tranh chấp “ballet nhựa” giữa Công
ty Nhựa Sài G̣n với DN nhựa Đại Đồng Tiến; hay vụ tranh chấp kiểu
dáng “vơng xếp” giữa Duy Lợi với một số DN khác tại TP.HCM.
Điều lo ngại nhất
hiện nay là một số DN ăn cắp mẫu mă của nước ngoài đem đi bảo hộ,
sau đó đi kiện các DN khác; hoặc một số DN ăn cắp mẫu mă của người
khác đem đi bảo hộ rồi kiện ngược lại DN bị “đánh cắp”.
Nguyên nhân xảy ra
t́nh trạng này là do nhiều DN c̣n rất“mù mờ” về SHTT, chưa nắm bắt
được các quy định của pháp luật, v́ vậy không bảo vệ được những
thành quả sáng tạo của ḿnh, thậm chí c̣n xâm phạm quyền của người
khác.
Để chuẩn bị hành
trang cho các DN trong quá tŕnh hội nhập, bà Hoàng Tố Như, Phó
trưởng Pḥng SHTT (Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) cho biết, đây là
một vấn đề rất khó. Theo khuyến cáo, đối với những hàng hóa xuất
khẩu ra nước ngoài, DN nên đăng kư nhăn hiệu tại nước nhập khẩu để
được bảo hộ quyền khi hàng hoá lưu thông trên thị trường.
DN không nên đăng
kư nhăn hiệu một cách tràn lan, mà phải xác định xem đơn vị ḿnh có
khả năng xuất khẩu hàng hóa sang quốc gia đó không; sản phẩm xuất
khẩu gồm những chủng loại nào; tuyệt đối không đăng kư SHTT theo
trào lưu, v́ như thế sẽ rất tốn kém, mà không hiệu quả. Trường hợp
đăng kư nhưng không sử dụng, hiệu lực của các văn bằng có thể bị hủy
bỏ.
Pháp luật của mỗi
quốc gia khác nhau, do đó thủ tục đăng kư tại mỗi quốc gia cũng khác
nhau. Chẳng hạn ở Mỹ, cơ sở để được cấp văn bằng là việc sử dụng
thực tế tại Mỹ. Chính v́ vậy, khi đăng kư nhăn hiệu vào quốc gia nào,
DN nên t́m hiểu kỹ pháp luật của quốc gia đó để việc nộp đơn đăng kư
có hiệu quả.
Riêng lĩnh vực da
giày, bà Như cho biết, nếu việc sử dụng các kiểu dáng chỉ diễn ra
trong thời gian ngắn, mẫu mă luôn thay đổi, th́ DN không nên đăng kư
kiểu dáng công nghiệp. Trường hợp muốn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
cho những sản phẩm mới, th́ trước khi đưa sản phẩm hàng hóa ra thị
trường, DN nên làm thủ tục đăng kư bảo hộ. Nếu đưa sản phẩm ra rồi
mới đăng kư, th́ phải mất 9 tháng mới được cấp văn bằng, như thế mẫu
mă đă lỗi thời.
Ở các ngành khác
như mỹ phẩm, DN thường đăng kư mẫu mă trước, chờ khi có văn bằng mới
đưa ra thị trường, cách làm này rất hiệu quả. Đối với DN, quyền SHTT
là tài sản kinh doanh và chúng chỉ tăng trưởng khi được khai thác sử
dụng hợp lư. Do vậy, việc h́nh thành chiến lược phát triển quyền
SHTT của DN là rất cần thiết và cấp bách.
Quyền SHTT đă trở
thành điều kiện bắt buộc cho các quốc gia khi hội nhập sân chơi
thương mại quốc tế. Trên cơ sở Hiệp định TRIPS (WTO – 1995), Hiệp
định VN - Thụy Sĩ về SHTT (1999), Hiệp định Thương mại VN – Hoa Kỳ
(2000), nh́n chung pháp luật SHTT VN đă căn bản phù hợp với các
chuẩn mực có tính bắt buộc trong các hiệp định kể trên về đối tượng,
nội dung bảo hộ, thời hạn được hưởng quyền…
Điều quan trọng c̣n
lại phụ thuộc rất nhiều vào DN, tức phải biết trang bị hành trang
pháp lư cho ḿnh một cách chu đáo, bài bản khi tiến sâu vào quá
tŕnh hội nhập.
2. Ngành công nghiệp xe máy VN chưa có bản sắc
Ông Hoàng Văn Tân,
Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) sáng
nay cho biết, hiện có 169 đơn xin đăng kư bảo hộ kiểu dáng xe máy
của các doanh nghiệp lắp ráp đang hoạt động tại Việt Nam, song chỉ
có 69 đủ tiêu chuẩn, mà đa số đơn vị được cấp bằng đều là của nước
ngoài.
"Sở dĩ việc cấp đơn
ít như vậy là do kiểu dáng mà các doanh nghiệp nộp xin bảo hộ đều
không đủ tiêu chuẩn về mới cũng như có sự khác biệt cơ bản đối với
các sản phẩm bên ngoài thị trường. Điều này thể hiện sự sáng tạo
chưa cao", ông Tân nói với VnExpress.
Trong số 169 đơn vị
th́ có 103 doanh nghiệp nước ngoài và 66 công ty trong nước. Con số
mà Cục này cấp cũng nghiêng hẳn về phía các đơn vị nước ngoài: 60 so
với 9.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp lại cho rằng, sự thiếu hướng dẫn cụ
thể của Cục Sở hữu trí tuệ cũng là nguyên nhân khiến họ gặp khó khăn.
Theo ông Đỗ Văn B́nh, Phó chủ tịch Hiệp hội xe đạp - xe máy Việt
Nam, Cục cần có những hướng dẫn cụ thể về tŕnh tự đăng kư bảo hộ,
bởi có nhiều doanh nghiệp do không nắm rơ quy tŕnh này đă gửi 20
đến 30 đơn đề nghị được cấp bảo hộ, gây mất nhiều thời gian. "Bên
cạnh đó là các trả lời của cơ quan quản lư Nhà nước nhiều khi không
rơ ràng. Chẳng hạn như kiểu dáng giống những loại đang bán rộng răi
trên thị trường hay không khác kiểu dáng cơ bản đă được bảo hộ khiến
cho doanh nghiệp không biết được cụ thể họ đang vướng ở những điểm
nào", ông B́nh nói.
Các doanh nghiệp
cũng cho rằng, để tạo ra bản sắc riêng cho các nhăn hiệu xe máy Việt
Nam, hiệp hội cần chủ tŕ, thành lập pḥng nghiên cứu kiểu dáng xe
riêng, tránh trùng lặp và được người tiêu dùng chấp nhận, bởi theo
ông Lê Quốc Vương, Giám đốc Công ty Dịch vụ kho vận Hải Pḥng (chuyên
sản xuất xe gắn máy..), việc cho ra đời một pḥng đăng kư kiểu dáng
riêng là một việc làm ngoài sức của doanh nghiệp.
"Chỉ riêng việc
thiết kế ra một kiểu dáng mới chúng tôi đă nhận được cái giá là
600.000 USD. Dù là số tiền rất nhỏ nếu so với các hăng khác đă thuê
thiết kết nhưng đây là con số rất lớn mà công ty chúng tôi khó có
thể đầu tư được", đại diện Công ty Tiến Lộc nói.
Tuy nhiên, ư tưởng
về một pḥng thiết kế chung cho các doanh nghiệp trong nước lại
không được sự ủng hộ. Theo ông Nguyễn Văn Khoa, Chủ tịch hiệp hội,
điều này khó có cơ sở để thực hiện, bởi từ trước đến nay, hiệp hội
đă mong muốn những doanh nghiệp chuyên sản xuất những cụm linh kiện
chính để có thể cung cấp cho các đơn vị khác nhưng không thực hiện
được, nhiều doanh nghiệp vẫn muốn hoạt động độc lập.
Sự nghèo nàn, thiếu đầu tư trong việc sáng tạo ra những kiểu dáng
mới của doanh nghiệp Việt Nam đă khiến cho t́nh trạng vi phạm bản
quyền diễn ra khá nhiều. Tính đến thời điểm này của năm 2004, Cục Sở
hữu trí tuệ đă nhận được 55 đề nghị của các cơ quan quản lư thị
trường, công an... về các kiểu dáng xe máy đang được bán trên thị
trường có dấu hiệu "ăn cắp" bản quyền - chiếm đến 20% trong tổng số
các đơn đề nghị thẩm định mà cục này nhận được. "Đây là con số rất
lớn nếu biết rằng trên thị trường hiện nay đang có hàng ngh́n mặt
hàng đang được bày bán", ông Tân cho biết.
Theo ông Tân, một
trong những nguyên nhân khiến cho t́nh trạng vi phạm bản quyền diễn
ra khá phổ biến là những tranh chấp này gần như không sử dụng đến
công cụ là toà án. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp lại cho rằng, mức
xử phạt tối đa là 100 triệu đồng không có tác dụng răn đe và không
hiệu quả. Trong một lần trao đổi với VnExpress về mức xử phạt này
liệu có thấp và có cần thay đổi, ông Lê Văn Kiều, Chánh thanh tra Bộ
Khoa học và Công nghệ cho biết, doanh nghiệp có thể tập hợp những
thiệt hại trong kinh doanh để có thể kiện đơn vị vi phạm. "Như vậy,
tổng số tiền mà các công ty vi phạm về kiểu dáng bị xử phạt, đền bù
cũng không hẳn là thấp", ông nói.
(Nguồn:
Ngọc Quang)
3. Thủ công mỹ nghệ VN yếu về thiết kế kiểu dáng
Hàng thủ công mỹ nghệ là một thế mạnh của Việt Nam. Xuất khẩu mặt
hàng này mang lại giá trị thực thu rất cao. Tuy nhiên, xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang có rất nhiều hạn chế mà điểm đầu
tiên cần cải tiến để tạo sự đột phá chính là khâu thiết kế kiểu dáng
sản phẩm.
Điểm yếu về thiết kế kiểu dáng
Trong một khảo sát mới đây của Pḥng Thương mại và công nghiệp Việt
Nam cho thấy: Thủ công mỹ nghệ Việt Nam yếu nhất ở hai khâu thông
tin thị trường và kiểu dáng mẫu mă. Khảo sát đă chỉ ra rằng, khi mà
thị trường, nhất là thị trường các nước phát triển ngày càng băo hoà
với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ th́ sản phẩm có giá rẻ là chưa đủ
để thoả măn nhu cầu khách hàng, chưa tạo ra được sức cạnh tranh.
Minh hoạ điều này,
bà Phạm Thị Thu Hằng, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và
vừa cho biết: ba năm trước đây, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam rất
được người nhật ưa chuộng do tính chất mới lạ và rẻ nhưng đến nay,
sức hấp dẫn đă bị giảm nhiều mà nguyên nhân chính là trong suốt thời
gian qua rất nhiều mẫu mă chúng ta đă không có sự thay đổi. Chính
điều này đă làm giảm sức cạnh tranh của hàng Việt Nam và nếu không
có những thay đổi kịp thời xuất khẩu thủ công mỹ nghệ sang thị
trường này có thể bị ảnh hưởng.
Xuất khẩu thủ công
mỹ nghệ là một thế mạnh với kim ngạch năm 2005 dự kiến đạt khoảng
500 triệu USD, Nhưng đến nay, các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ Việt
Nam c̣n đầu tư quá ít cho nghiên cứu thị trường nhất là nghiên cứu
thị trường dành riêng cho tạo mẫu và thiết kế. Hệ quả của việc này
là rất nhiều hàng thủ công Việt Nam không có những công dụng rơ nét
và chưa hướng tới những thị trường cụ thể.
Ông Robert Webster
- Giám đốc Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh cho rằng: việc tạo ra
những mẫu mă riêng, phù hợp với nhu cầu thị trường là cách tốt nhất
để khẳng định ḿnh và khách hàng sẵn sàng trả giá cao cho những sản
phẩm đáp ứng được nhu cầu của họ. Đây chính là năng lực cạnh tranh
đích thực. Ông Robert Webster nhấn mạnh, giá cả tuy rất quan trọng
nhưng một chiến lược giá thấp là không có tính bền vững v́ trên thế
giới luôn có những người chỉ cần thông qua biến động về tỷ giá ngoại
hối đă có khả năng cung cấp sản phẩm với giá thấp hơn.
Một điểm yếu khác
của hàng thủ công Việt Nam là quy mô sản xuất nhỏ. IKEA là một hăng
phân phối đồ nội thất hàng đầu thế giới đang có mặt ở Việt Nam hơn
một năm nay để thu mua đồ thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, nhưng vẫn chưa
t́m được các doanh nghiệp sản xuất lớn để làm đầu mối cung cấp lâu
dài. Đơn đặt hàng của các hăng phân phối quốc tế luôn yêu cầu một
khối lượng lớn, trong một thời gian giao hàng nhất định trong khi đa
số các sản xuất thủ công Việt Nam vẫn c̣n nhỏ chủ yếu sản xuất hộ
gia đ́nh trong các làng nghề..
Thay đổi quan niệm về thiết kế
Mặc dù chưa có một nghiên cứu nào về hiện trạng thiết kế kiểu hàng
thủ công mỹ nghệ Việt Nam nhưng một số chuyên gia cho rằng: doanh
nghiệp Việt Nam nên đầu tư nhiều hơn cho thiết kế kiểu dáng. Bởi v́,
nếu kéo dài t́nh trạng sao chép kiểu dáng sẽ gặp rắc rối về vấn đề
pháp lư, c̣n chỉ làm theo mẫu mă của các nhà nhập khẩu nước ngoài
th́ giá trị mang lại rất nhỏ nhoi.
V́ vậy, bà Phạm Thị
Thu Hằng cho rằng: để khẳng định vị trí của thủ công mỹ nghệ Việt
Nam trên thương trường th́ công tác thiết kế kiểu dáng, mẫu mă riêng
của doanh nghiệp cần phải hết sức coi trọng, trong đó cần đề cao
tính ứng dụng, khả năng tiếp cận thị trường và cả việc sản xuất với
khối lượng lớn.
Tuy nhiên, hiện
nay, việc thiết kế sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các nghệ nhân, các
doanh nghiệp Việt Nam thường đề cao tính nghệ thuật, sự độc đáo, ư
nghĩa văn hoá của sản phẩm, các thiết kế sản phẩm mang tính "độc
nhất" và "của riêng ḿnh" riêng ḿnh luôn được đề cao trong khi đó
khả năng ứng dụng và tính thương mại chưa được chú ư nhiều.
Ông Robert Webster
cho rằng, khi nói đến thiết kế của ngành thủ công mỹ nghệ, chúng ta
không chỉ nói về tính hấp dẫn, độc đáo mà chúng ta cần nói về tính
thương mại của thiết kế, có nghĩa là thiết kế sản phẩm được đánh giá
bởi thị trường mà nó hướng tới. Điều này không có nghĩa thiết kế của
sản phẩm có thể kém hấp dẫn, kém độc đáo và không quan trọng về mặt
văn hoá. Tuy nhiên, một thiết kế hấp dẫn về sự độc đáo và tính văn
hoá nếu không được thị trường chấp nhận th́ không trở thành một
thiết kế có tính thương mại.
V́ vậy, ông Robert
Webster cho rằng, các nhà thiết kế Việt Nam hăy quan tâm nhiều hơn
tới những thiết kế có tính thương mại, t́m hiểu kỹ về thị trường mà
thiết kế sản phẩm đang hướng tới. Một sự kết hợp tốt giữa tài năng
độc đáo của nhà thiết kế với những hiểu biết về thị trường sẽ giúp
cho sản phẩm của doanh nghiệp được đánh giá cao và được trả giá cao
hơn và tạo ra sự bền vững trong sự phát triển của doanh nghiệp.
Chia sẻ về vấn đề
này, ông Bùi Thế Hoàng, Giám đốc sáng tạo Công ty LP Design cho rằng:
đối với thị trường các nước phát triển, hàng thủ công mỹ nghệ mang
tính thời trang rơ nét. V́ vậy, những nhà sản xuất nên đầu tư nhiều
hơn cho khâu nghiên cứu thị trường. Đặc biệt, các doanh nghiệp thủ
công mỹ nghệ kể cả nhũng doanh nghiệp có nhiều nghệ nhân giỏi cũng
nên xây dựng một đội ngũ hoạ sỹ tạo mẫu chuyên nghiệp và thường
xuyên đầu tư để đội ngũ này nâng cao chuyên môn và cập nhật kiến
thức về thị trường để phục vụ cho việc sáng tạo mẫu mă có chất lượng
cao hơn.
(Nguồn:http//:
vietnamnet.vn)
4. Nhiều DN nước ngoài t́m hiểu luật để "ṿi" tiền DN VN
Đại diện
nhóm Johnson Miki của Nhật tháng 8/2002 đă yêu cầu Doanh nghiệp tư
nhân Duy Lợi (DNTN) hoặc ngừng ngay việc sản xuất khung mắc vơng,
hoặc phải đóng "phí bản quyền" sáng chế cho nhóm với mức 4 USD đối
với mỗi chiếc vơng xuất sang Nhật Bản. Nếu không, nhóm Miki sẽ kiện
Duy Lợi v́ "xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (SHCN)".Miki đưa ra lư
lẽ là giải pháp hữu ích "Khung vơng tiện dụng" họ đăng kư đă được Cơ
quan sáng chế Nhật Bản cấp văn bằng số 3081528 vào ngày 22/8/2001.
Từ một lá thư đ̣i... "phí bản quyềnDNTN
Duy Lợi (www.duyloi.com) là cơ sở sản xuất vơng xếp nổi tiếng và uy tín của Việt
Nam. Chỉ tính từ đầu năm đến nay, số lượng vơng Duy Lợi xuất sang
Nhật vượt cả năm 2002. Duy Lợi cũng đă kư được hợp đồng dài hạn với
tập đoàn siêu thị Keyio. Do đó, lời đe dọa của Miki đặt ra một nguy
cơ: Hàng Duy Lợi không những không được tiêu thụ tại Nhật (v́ bị cáo
buộc là xâm phạm quyền SHCN), mà c̣n không thể bán ra tại 112 quốc
gia thành viên của Hiệp hội Sáng chế Quốc tế.
Trước
t́nh h́nh đó, tháng 11/2002, Duy Lợi với đại diện pháp luật là công
ty luật Phạm&Associates đă tiến hành khiếu nại yêu cầu Cơ quan Sáng
chế Nhật hủy bỏ văn bằng số 3081528.
Hành
tŕnh t́m kiếm sự công bằng kéo dài hơn 6 tháng. Phía bị đơn lập
luận: Đăng kư thứ nhất của Duy Lợi về kiểu dáng "Khung mắc vơng" bị
Cục SHCN Việt Nam từ chối ngày 25/6/2001 chính v́ kiểu dáng này đă
được phía bị đơn nộp đăng kư vào ngày 9/7/1996. Đây cũng là giải
pháp bị đơn đăng kư ở Nhật và được cấp văn bằng giải pháp hữu ích.
Nhưng
trên thực tế, giải pháp của Duy Lợi đă được công bố trên Công báo
SHCN số 147, tập A, trang 84-85 (với số công bố 3787) trước khi có
đơn đăng kư giải pháp hữu ích của nhóm Johnson Miki tại Nhật. V́ thế
chiểu theo Điều 3, khoản 1, mục 3 trong Luật Sáng chế th́ giải pháp
"Khung vơng tiện dụng" không thể được đăng kư.
Sau một
thời gian xem xét, nghe nguyên đơn lập luận và bị đơn biện hộ, Cơ
quan Sáng chế Nhật đă ra phán quyết: Văn bằng giải pháp hữu ích "Khung
vơng tiện dụng" của nhóm Johnson Miki vi phạm quy định Điều 3, khoản
2 Luật Sáng chế, nên phải bị hủy bỏ theo Điều 37, khoản 1, mục 2 của
luật này. Bên bị đơn cũng phải gánh chịu tất cả án phí.
Một bài học quư giá cho các doanh nghiệp Việt Nam
Tuy DNTN
Duy Lợi thắng kiện, nhưng vụ khiếu nại trên cho thấy có rất nhiều
vấn đề các doanh nghiệp phải lưu tâm, đặc biệt là doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Ông Lâm Tấn Lợi cho biết, doanh nghiệp ở các nước nắm vững
về luật. Họ cũng t́m hiểu rất kỹ hoạt động của những cơ sở sản xuất
và doanh nghiệp Việt Nam.
Cụ thể,
nhóm Miki và đại diện của họ ở Việt Nam đă t́m hiểu và biết Duy Lợi
đang gặp khó khăn trong việc đăng kư kiểu dáng "Khung mắc vơng". Khi
biết Duy Lợi mới chỉ đăng kư kiểu dáng th́ họ đăng kư sáng chế tại
Nhật. Đây là điều mà Duy Lợi chưa tính đến. Dù văn bằng giải pháp
hữu ích của nhóm Miki bị tuyên hủy bỏ, Duy Lợi giờ cũng không thể
tiếp tục đăng kư sáng chế cho giải pháp của ḿnh, v́ Luật Sáng chế
không chấp nhận đăng kư cho những giải pháp đă được sử dụng rộng răi
trước khi nộp đơn đăng kư.
Ông
Lợi nói: "Qua trường hợp của ḿnh, tôi mong các doanh nghiệp Việt
Nam khi có những sáng tạo, cần nhờ các công ty luật chuyên ngành tư
vấn và đăng kư bản quyền ngay để tránh bị rơi vào các vụ bị ăn cắp
bản quyền, và những cuộc kiện tụng kéo dài tiền mất tật mang". Nếu
không, các doanh nghiệp Việt Nam có thể sẽ phải trả giá đắt từ những
cuộc tranh chấp SHCN với công ty nước ngoài cho dù họ không sai
(Nguồn:http//:
vietnamnet.vn)
5.
Xe máy pha tạp các loại kiểu dáng
Đa
phần doanh nghiệp Việt Nam chưa có được kiểu dáng xe của riêng ḿnh,
hầu hết sử dụng các kiểu dáng xe không được bảo hộ của các công ty
Nhật Bản. Nhiều doanh nghiệp pha trộn các kiểu xe tạo ra một thị
trường với đủ các kiểu dáng "đầu Ngô, ḿnh Sở" với vô số nhăn hiệu.
Đó là nội dung chính trong Báo cáo về Sở hữu trí tuệ trong
lĩnh vực xe máy của Đoàn kiểm tra liên ngành do Bộ Công nghiệp chủ
tŕ vừa tŕnh lên Thủ tướng. Đợt kiểm tra này được báo trước, tiến
hành tại 30 doanh nghiệp đang hoạt động, 15 doanh nghiệp sản xuất
cầm chừng chỉ phải gửi báo cáo cho đoàn.
Theo Bộ Công nghiệp, tổng số nhăn hiệu hàng hoá để gắn lên xe
máy của cả 45 doanh nghiệp là 238. Trong số đó có nhiều nhăn hiệu
tương đối giống nhau, gây khó khăn cho người tiêu dùng trong việc
lựa chọn, chẳng hạn, Denrim với Dream. Tuy nhiên, về mặt pháp lư,
tất cả các nhăn hiệu này đều có đơn đăng kư và được Cục Sở hữu trí
tuệ cấp giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu hàng hoá hoặc có phiếu báo
kết quả tra cứu nhăn hiệu hàng hoá không vi phạm sở hữu công nghiệp
tại Việt Nam.
Qua kiểm tra cả 30 doanh nghiệp đều sử dụng kiểu dáng xe mang
các nhăn hiệu của Honda Nhật Bản, trong đó 28 doanh nghiệp sử dụng
kiểu dáng xe Dream II; 9 doanh nghiệp sử dụng kiểu dáng xe Spacy; 5
doanh nghiệp sử dụng kiểu dáng xe Honda Win 100; 4 doanh nghiệp sử
dụng kiểu dáng xe Honda @. 12 doanh nghiệp sử dụng kiểu dáng xe
Suzuki của Suzuki (Nhật Bản), ngoài ra kiểu dáng xe Best, FX125 cũng
được sử dụng.
(Thời báo kinh tế
Việt Nam)
6.
Hàng dệt may Trung Quốc tràn ngập – V́ sao?
Đưa
người bạn từ Sài G̣n ra thăm Hà Nội đi sắm vài chiếc áo ấm “đối phó”
với tiết trời giá lạnh cuối năm, qua gần chục con phố chuyên kinh
doanh hàng quần áo, chúng tôi đều không khỏi ngạc nhiên trước sự
tràn ngập hàng Trung Quốc mà người dân Hà Nội quen gọi là “hàng Tàu”...
Đi Quảng Châu “đánh hàng”
Những
con phố “chuyên doanh” hàng quần áo Tàu nổi tiếng ở Hà Nội phải kể
đến Chả Cá, Lương Văn Can, Thợ Nhuộm, Trần Nhân Tông, Hàng Ngang,
Hàng Đào... Chưa bàn về chất lượng, chỉ cần màu sắc và kiểu dáng
thời trang, giá “mềm”, hàng Tàu đă là sự lựa chọn số một của giới
trẻ có túi tiền b́nh dân rồi.
Tại một
cửa hàng quần áo trên đường Trần Nhân Tông, chị Phạm Hải Yến (22
tuổi, nhân viên Công ty kiểm toán Grand Thompton) cho biết: Hàng
Trung Quốc có kiểu dáng phong phú và màu sắc để lựa chọn. Tất nhiên,
chất lượng thua xa hàng Việt Nam nhưng v́ giá rẻ nên mua về mặc vài
tháng lại đổi qua kiểu khác cho vui...”. Vũ Tuấn điều hành một chuỗi
cửa hàng thời trang ở Hải Pḥng và Hà Nội cho biết: “Họ có thể làm
giống như thật tất cả các nhăn hiệu nổi tiếng nhất. Giá nào cũng có
tùy theo chất lượng. Đặc biệt, họ luôn đúng hẹn và chấp nhận mọi yêu
cầu chỉ trong 2 – 3 ngày, dù ḿnh có đặt vài vạn bộ quần áo theo mẫu
riêng”.
Điều
đáng nói ngay cả cao cấp có thương hiệu Việt Nam cũng được gia công
ở Trung Quốc. Dân buôn hàng quần áo có thương hiệu, “hàng độc” biết
rơ điều này nhất. Với kinh nghiệm hơn 10 năm chuyên “đánh” hàng Tàu,
ông Tuấn đă nhẵn mặt một số ông chủ shop thời trang thương hiệu Việt
(chủ yếu hàng thời trang cho giới trẻ và váy cưới) trên đất Quảng
Châu – Trung Quốc. Thường một số chủ shop sang thăm ḍ t́nh h́nh làm
hàng nhái nhăn hiệu của công ty, nhưng đa số sang đặt làm nhái chính
nhăn hiệu của ḿnh hoặc của người khác!.
Theo
tiết lộ của giới buôn hàng Tàu th́ nguồn cung cấp quần áo Trung Quốc
cho thị trường miền Bắc chính là “đại xưởng may Quảng Châu”. Vẫn
theo ông Tuấn th́ những xưởng may lớn ở Quảng Châu có hàng ngàn nhân
công. Họ đă sẵn có hàng vạn mẫu mốt mới nhất của thế giới cho ḿnh
chọn. Ưu điểm nổi bật là công nghệ dệt và làm nhăn mác của Trung
Quốc rất mạnh.
Tính
chuyên môn hóa của các nhà may ở Quảng Châu cũng rất cao, có xưởng
chuyên quần ḅ, có xưởng chuyên may váy cưới, sơ mi, quần tây... nên
họ sản xuất hàng loạt và đáp ứng đơn hàng vài chục ngàn chiếc chỉ
trong 2-3 ngày.
Công ty may trong nước: không có ư định cạnh tranh
Khi đi
t́m hiểu về thị trường quần áo thu đông, chúng tôi cũng đă có dịp so
sánh hàng Tàu với hàng dệt may của các công ty trong nước. Tại Trung
tâm thương mại Vinatex (siêu thị quần áo của các thành viên Tổng
Công ty Dệt may Việt Nam – 25 Bà Triệu), khách hàng được chứng kiến
sự đổi thay khá mạnh mẽ, từ chỗ chỉ chuyên gia công hàng xuất khẩu,
vài năm trở lại đây, các công ty may trong nước đă chuyển hướng,
nhắm vào người tiêu dùng nội địa. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những
nỗ lực đơn lẻ của từng công ty và cũng chỉ nhắm vào một vài đối
tượng khách hàng với vài ba mặt hàng chủ lực, phần lớn chỉ là sơ mi,
quần tây, áo khoác.
Chị Đặng
Thị Quy, Phó Giám đốc phụ trách bán hàng khu vực phía Bắc (Công ty
May Việt Tiến) cho biết, Việt Tiến không có ư định cạnh tranh với
hàng Trung Quốc bằng cách đa dạng chủng loại mà chỉ chuyên sâu vào
mặt hàng thế mạnh là sơ mi nam và quần tây. Với giá bán trung b́nh
từ 150.000 đến trên 300.000 đồng/chiếc, hàng của Việt Tiến cũng chỉ
hướng đến đối tượng cán bộ, công chức khá giả.
Tương tự, nhiều công ty may khác như Thăng Long, May 10, Đức Giang,
Dệt len Mùa đông... cũng chỉ có vài chủng loại hàng thế mạnh, xoay
quanh các loại áo sơmi nam nữ, quần tây, áo len... Mẫu mă chưa phong
phú, giá cả tương đối cao, thị trường thời trang dành cho giới trẻ
bị các công ty may trong nước bỏ ngỏ, để trống sân cho hàng Trung
Quốc tràn ngập là điều cũng không khó giải thích
(Nguồn:
www.sggp.org.vn) |