|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 11
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư
nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
Bản tin Sở hữu trí
tuệ số này xin gửi đến bạn đọc một số tin tức chung về
Bản quyền trong lĩnh vực Sở hữu trí
tuệ:
1. Cái áo không làm nên thương hiệu!
Nhăn
hiệu sản phẩm của doanh nghiệp chỉ là cái áo của thầy tu, tính cách,
sự uyên thâm đắc đạo của vị sư đó mới chính là thương hiệu. Hay nói
cách khác, sản phẩm chỉ là phần xác của người b́nh thường, thương
hiệu chính là phần hồn của người đó sẽ trường tồn măi với thời gian.
Nếu bạn biết chăm chút và xây dựng tính cách cho sản phẩm của ḿnh”,
Thạc sĩ Vũ Quốc Chinh, giảng viên đại học kinh tế TP.HCM đă ví von
về thương hiệu như vậy, trong buổi tọa đàm “Thương hiệu và Hội nhập”
do Báo SGTT tổ chức trong khuôn khổ HCHVNCLC 2005 tại TP. Đà Nẵng
sáng 3.9.2005.
“Tại
sao doanh nghiệp cần có thương hiệu? Các bạn hăy hiểu một cách đơn
giản, Khi mỗi con người tồn tại trên đời này, đều muốn ḿnh… tồn tại.
Khi đă tồn tại rồi, dĩ nhiên người đó đều muốn mọi người biết đến
ḿnh”. Theo ông Vũ Quốc Chinh, để mọi người biết đến ḿnh, ḿnh phải
tạo uy tín cho bản thân. Không những thế, bản thân mỗi người đều
mong muốn ḿnh chiến thắng thành công trong công việc. Nghĩ cho rộng
ra, thương hiệu cũng như vậy, bởi thương hiệu là nguồn động lực
thành công của doanh nghiệp. Những yếu tố cấu thành sự thành công
của một doanh nghiệp, từ thương hiệu bao gồm: sản xuất, nhân sự,
kinh doanh, tài chính. Ở yếu tố sản xuất, khi có một thương hiệu
mạnh, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn cho các yếu tố đầu vào,
đơn giản hóa quá tŕnh sản xuất, bảo hành, sữa chữa… Doanh nghiệp sẽ
dễ dàng thu hút nhân tài, giữ ǵn nhân công, tạo động lực cho toàn
doanh nghiệp phát triển. Khi xây dựng thương hiệu thành công, doanh
nghiệp cũng khẳng định được đẳng cấp của sản phẩm, dịch vụ của doanh
nghiệp. Từ đó, tính cạnh tranh của mỗi sản phẩm sẽ tăng lên và những
nhà sản xuất sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn trong khi hợp tác với nhà
phân phối để quảng bá sản phẩm đến những khách hàng tiềm năng.
Thương hiệu có góp phần làm tăng giá trị sản phẩm hay không? Thương
hiệu làm tăng giá trị cảm nhận của sản phẩm. Theo ông Chinh, tất cả
những “kiểm nghiệm mù” cho từng nhóm sản phẩm giống nhau đă cho thấy
người tiêu dùng “ăn” bằng mắt, nhiều hơn so với việc sử dụng và đánh
giá sản phẩm đó với vị giác. “Tiêu dùng bằng mắt”, khách hàng sẽ tư
duy và suy diễn sản phẩm đó theo nhiều cách khác nhau và việc suy
diễn này đă làm thay đổi cảm nhận của sản phẩm đó. Một thương hiệu
mạnh, nổi tiếng sẽ được người tiêu dùng dễ dàng chấp nhận hơn một
sản phẩm có chất lượng tương đương, nhưng thương hiệu đó không được
ai biết đến. Và vị giác chỉ là một phần tham gia vào quá tŕnh h́nh
thành thương hiệu trong những sản phẩm tiêu dùng.
Có ư kiến cho rằng, “vậy thương hiệu chỉ là cách để đánh lừa giác
quan”. Ông Vũ Quốc Chinh, hoàn toàn phủ nhận nhận định này, bởi theo
ông “thương hiệu là nơi hội tụ tất cả giác quan”. Đơn cử, một thương
hiệu mạnh, dĩ nhiên những sản phẩm đó phải có chất lượng tốt, bao b́,
mẫu mă đẹp, phong cách phục vụ tận t́nh, chu đáo. Chính sự hội tụ đó
đă làm nên một thương hiệu mạnh và hiện hữu, người tiêu dùng có thể
thấy, ngửi, sờ, nắn… để cảm nhận được sản phẩm và nhớ sản phẩm đó
lâu hơn.
Để xây dựng thương hiệu thành công, doanh nghiệp phải tạo ra sự khác
biệt, sự khác biệt đó phải chăm chút từ khâu sản xuất, bán hàng cho
đến hậu măi và quan trọng nhất là câu solgan dễ nhớ và ấn tượng.
“Các bạn có nhớ câu solgan: Chữ tín trong tim”, ông Chinh đặt vấn đề.
Đây chính là câu solgan của thép Việt- Uc, sự khác biệt của câu này
là quảng cáo cho một sản phẩm cứng là thép, nhưng lại được thể hiện
bằng một câu aolgan mềm mại. Và thương hiệu chính là một phần quan
trọng của sản phẩm, khi doanh nghiệp phát triển lên nhiều nhóm sản
phẩm khác nhau, một thương hiệu uy tín chắc chắn sẽ tạo những sản
phẩm mới dễ dàng được người tiêu dùng chấp nhận. Carterpillar được
biết đến như một thương hiệu nổi tiếng trên thế giới về xe ủi đất,
dùng trong các công tŕnh xây dựng. Ngoài sản phẩm là máy ủi, xe ủi,
đây c̣n là một thương hiệu khá nổi tiếng về các sản phẩm thời trang
dành cho nam giới. Giày thời trang mang thương hiệu Carterpillar nổi
tiếng trên thế giới không kém “người thân sinh” ra nó là máy ủi đất
Carterpillar. Lâu nay, người tiêu dùng chỉ biết Sony chỉ sản xuất
tivi, nhưng tại xứ sở Phù Tang, những cô gái Nhật luôn tự hào ḿnh
có được những bộ mỹ phẩm hàng hiệu, mang thương hiệu Sony. Đó chính
là giá trị của thuơng hiệu, khi nghĩ đến Honda người ta nghĩ ngay
đến tính lâu bền của sản phẩm, Suzuki đánh vào phân khúc thời trang,
trẻ trung… đó là những ǵ mà những nhà làm thương hiệu đă “định vị”
được thượng đế của ḿnh.
Nguồn tin lấy từ:
www.mtvland.info
2. Ít tiền vẫn xây dựng được thương hiệu
Khi nói đến xây
dựng thương hiệu, doanh nghiệp thường nghĩ đến quảng bá, quảng cáo,
tổ chức sự kiện... Nhưng thực tế có 1.001 cách xây dựng thương hiệu.
Mặc dù biết rơ tầm
quan trọng của thương hiệu, nhưng do tiềm lực tài chính hạn chế, đa
số các doanh nghiệp (DN) VN đành âm thầm nh́n các sản phẩm cùng loại
của các công ty nước ngoài làm mưa, làm gió chiếm lĩnh thị trường.
Tuy nhiên, theo
nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này, vẫn c̣n rất nhiều “cửa” cho các
DN ít tiền xây dựng thương hiệu.
Thương hiệu đến từ
khách hàng
Theo ông Đoàn Đ́nh
Hoàng, Giám đốc điều hành Công ty Masso Group, vấn đề đầu tiên là DN
phải hiểu đúng về thương hiệu. Trong một điều tra được tiến hành gần
đây, đa số DN cho rằng một sản phẩm chất lượng chưa cao th́ không
cần thiết phải tạo ra thương hiệu.
Đây là nhận định
sai lầm. Chúng ta đă từng chứng kiến những sản phẩm hàng hóa kém
chất lượng của Trung Quốc tràn ngập khắp thị trường VN và nhiều nước
trên thế giới với thương hiệu hàng hóa giá rẻ phục vụ cho phân khúc
khách hàng có sức chi trả thấp. Những chiếc b́nh, lọ gốm đất nung
không tṛn trịa, đồng đều ở các ḷ gốm thủ công Bàu Trúc (Ninh Thuận)
vẫn được đón nhận v́ “không cái nào giống cái nào” và được trân
trọng trưng bày tại các khu resort, khách sạn năm sao, các biệt thự
sang trọng...
“Thương hiệu là các
giá trị, các trải nghiệm của khách hàng về một sản phẩm, một công ty
cụ thể. Nghĩa là thương hiệu đến từ khách hàng”- ông Hoàng nói.
Gắn kết với những
tên tuổi lớn
Một phương pháp khá
hữu hiệu để xây dựng thương hiệu trong điều kiện tiềm lực tài chính
hạn chế đă được nhiều công ty VN áp dụng là gắn kết với những tên
tuổi lớn. Đơn cử như sau khi gắn kết với Pierre Cardin đă nâng đẳng
cấp quần áo thương hiệu An Phước lên một tầm mới.
Bà Mai Kiều Liên,
Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sữa VN (Vinamilk), cũng cho biết để
xây dựng thương hiệu mạnh, hướng ra toàn cầu, Công ty Vinamilk sẽ
liên kết với những tập đoàn chế biến thực phẩm hàng đầu trên thế
giới.
Mới đây Vinamilk đă
kết hợp với Công ty Campina (Hà Lan)- một tập đoàn có kinh nghiệm
trong sản xuất và quảng bá những sản phẩm sữa cao cấp trên thế giới-
để sản xuất các sản phẩm sữa và bột dinh dưỡng cao cấp với thương
hiệu mới nhằm cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia.
Xu hướng liên kết
với các thương hiệu uy tín để vươn ra các thị trường lớn cũng đang
được nhà khổng lồ Trung Quốc thực hiện tích cực. Điển h́nh là sự
liên kết với hăng Thompson (Pháp) của tập đoàn sản xuất tivi TCL.
Thương hiệu máy tính Levono gắn kết với đại gia IBM (Mỹ). Cách đi
tắt đón đầu rất thực tế nhằm rút ngắn thời gian cũng là cách khẳng
định đẳng cấp “made in China” trên toàn cầu.
Tạo nét khác biệt
Chỉ với một hộp dầu
cao, h́nh ảnh dũng mănh của con cọp Tiger Baml đă mang lại doanh thu
lên tới hàng trăm triệu đô la Singapore mỗi năm. Lư giải sự thành
công của dầu cao Tiger Baml, ông Đoàn Đ́nh Hoàng cho rằng đó chính
là sự khác biệt mang triết lư phương Đông với những thêu dệt ly kỳ
về công thức chế tạo bí truyền...
Tạo sự khác biệt
được coi là một trong những yếu tố mang tính “ch́a khóa” trong việc
xây dựng thương hiệu. Chẳng thế mà khi xây dựng chiến lược xây dựng
thương hiệu cho hàng gốm sứ Bát Tràng, nhóm chuyên gia tư vấn nước
ngoài đă làm việc với hơn 400 DN ở Bát Tràng để “t́m nét đặc trưng
cho sản phẩm”. Đó chính là dấu ấn từ bàn tay khéo léo của người thợ,
óc sáng tạo, những nước men đặc sắc...
Hiện nay, rất nhiều
DN đầu tư khoản tiền ít ỏi vào các hoạt động xây dựng thương hiệu
như một công thức sẵn có từ các DN đi trước như quảng cáo trên tivi,
phát tờ rơi... một cách dàn trải. Theo ông Hoàng, sự khác biệt không
có nghĩa là nhiều tiền, DN phải lựa chọn cho ḿnh một công cụ xây
dựng thương hiệu phù hợp nhất, tập trung mọi nỗ lực nhằm sáng tạo ra
cách thể hiện khác biệt th́ vẫn có thể tạo cho ḿnh một thương hiệu
mạnh.
Do bị giới hạn về
chi phí và nhất là do nhận thức chưa đúng về xây dựng và phát triển
thương hiệu nên tỉ lệ chi phí cho thương hiệu của các DN VN c̣n khá
khiêm tốn.
Theo số liệu
điều tra về tỉ lệ đầu tư cho thương hiệu năm 2004 của Bộ Thương mại,
cứ 100 DN Nhà nước th́ có 16 DN không đầu tư, 73 DN đầu tư dưới 5%,
8 DN đầu tư từ 5% - 10% và chỉ có 3 DN đầu tư trên 10%. Số liệu trên
giải thích v́ sao chúng ta chưa cónhững thương hiệu thực sự mạnh.
Theo Người lao động
Nguồn: www.dantri.com.vn
3. Nhiều DN Việt đă khơi
mào cho "cuộc chiến nội- ngoại "
“Cuộc
cạnh tranh toàn cầu không c̣n đứng trước ngưỡng cửa nữa, mà đă ở ngay
trong nhà”. Đó là lời nhấn mạnh của một DN Việt trong bối cảnh phải
đương đầu với các tập đoàn đa quốc gia ngay tại "sân nhà". Làm ǵ để
DN không bị “xóa sổ” khi hội nhập AFTA và WTO cận kề là vấn đề được
nhiều DN quan tâm lúc này
Đối
đầu
Theo
ông Nguyễn Trần Quang, cố vấn thương hiệu Công ty cà phê Trung
Nguyên, chúng ta đang đứng giữa cuộc chiến khốc liệt của hàng hóa và
thương hiệu.
Nói
về hàng hóa, chúng ta chưa có lợi thế riêng để đối đầu như Trung
Quốc có thế mạnh là hàng giá rẻ; Nhật có ưu thế về chất lượng
sản
phẩm…
Nói
về thương hiệu, chúng ta cũng chưa có được những thương hiệu mạnh,
tên tuổi, được cả thế giới biết đến. Ông Quang cho biết, thương hiệu
mạnh là tài sản lớn của một quốc gia. 100 thương hiệu hàng đầu thế
giới có giá trị tương đương 1.000 tỷ USD, bằng GNP 63/193 quốc gia.
“Một đất nước giàu mạnh phải có thương hiệu mạnh” - ông Quang khẳng
định.
Tại
Hàn Quốc, chiến lược về thương hiệu mạnh đă được nước này triển khai
từ lâu, theo đó, đến năm 2010 Hàn phải có 10 thương hiệu nằm trong
danh sách 100 thương hiệu mạnh nhất thế giới. Để thực hiện mục tiêu
này đă có 300 DN được Chính phủ Hàn chọn ra để đầu tư đào tạo, phát
triển thương hiệu trên toàn cầu. SamSung là một trong những thương
hiệu điện tử chiến lược của nước này.
Tại
VN, thói quen sử dụng kênh phân phối hàng truyền thống (chợ, cửa
hàng, đại lư… ) vẫn c̣n nên DN trong nước c̣n cơ hội, song với
xu thế tiêu dùng trong những năm qua cho thấy kênh phân phối
hiện đại (siêu thị) ngày càng chiếm ưu thế và có khả năng “đánh bại”
các kênh bán hàng không chuyên. Như vậy, khả năng DN nội mất dần cơ
hội phân phối hàng là rất cao.
Một
chuyên gia kinh tế cho hay, hệ thống phân phối là một khâu tối quan
trọng của DN. Như bài học sản phẩm bia Laser của Công ty Tân Hiệp
Phát là một ví dụ, DN này đă làm tốt khâu chất lượng sản phẩm (đầu
tư dây chuyền công nghệ cao), quảng cáo tiếp thị giỏi (thuê hẳn các
chuyên gia nước ngoài làm quảng cáo, hầu hết các mẫu quảng cáo của
bia Laser đều tạo được
ấn
tượng đẹp với khách hàng)… Thế nhưng đến nay sản phẩm này vẫn thất
bại. Lư do Laser không tiêu thụ được trên thị trường chỉ v́ bị các
“đại gia” đi trước, mạnh hơn “chặn đứng” đường phân phối!
Đáng
lo hơn cho DN nội chính là sự
xuất hiện mạnh mẽ của các tập đoàn phân phối toàn cầu tại VN.
Sau Big C, Metro, Parkson, Dairy Farm… Mới đây VietNamNet đă nhận
được nguồn tin khá chắc chắn rằng tập đoàn phân phối số 1 thế giới
Walmart (Mỹ) cũng đang t́m cách tiếp cận thị trường VN.
Khi
kênh phân phối thuộc về tay ai th́ quyền chọn bán sản phẩm của nhà
sản xuất nào là do họ quyết định. Điều này các DN nội thấm thía hơn
cả. Khi tập đoàn Parkson trở thành chủ nhân mới của Trung tâm thương
mại Saigontourist th́ đă có nhiều DN trong nước phải “đội nón ra đi”
v́ hàng không phù hợp với qui mô siêu thị.
Tuyên
chiến
Đến
VN, cách thức hội nhập của các công ty đa quốc gia rất “siêu đẳng”.
Các DN này tự “biến” ḿnh thành DN địa phương với các khẩu hiệu rất
dễ đi vào ḷng người như “Tôi yêu VN” (Honda VN), “Hương vị VN hơn”
(NesCafe’)…
Thay
v́ thái độ dửng dưng trên "sân nhà", nhiều DN đă bắt đầu khơi dậy
những cuộc chiến để dành lấy cơ hội cho ḿnh.
Khơi
mào cuộc chiến “nội - ngoại” có thể kể đến là cà phê Trung Nguyên
khiêu chiến với Nescafe’ bằng sự kiện tổ chức cho hơn 35.000 người
đến dinh Thống Nhất “test cà phê mù”. Công ty này đă cho khách hàng
dùng thử 2 sản phẩm (G7 và Nescafe’), dĩ nhiên là không cho biết
trước sản phẩm ǵ, sau đó thu kết quả nhận định của khách hàng. Kết
quả là có tới 89% khách hàng chọn sản phẩm G7 của Trung Nguyên.
Nhiều người lo ngại Nescafé sẽ phản ứng, thậm chí sẽ kiện, nhưng với
Trung Nguyên th́ cái tên G7 đă tạo được sự chú ư đối với dư luận và
người tiêu dùng.
Ngoài
ra, một số thương hiệu Việt khác cũng sẵn sàng đối đầu như NutiFood
với Dutch Lady, Diana với các nhăn hiệu ngoại như Wisper, Kotex,
Laurier… Có thể cuộc chiến này không dễ dàng ǵ nhưng nếu bỏ qua DN
sẽ không c̣n cơ hội giữ vững
thị trường
Nguyễn Sa
Nguồn tin lấy từ: www. Vietnamnet.vn
4. T hay H - cảnh giác
với thương hiệu!
Thương hiệu sản
phẩm là vấn đề đầu tiên mà người tiêu dùng quan tâm khi muốn mua một
sản phẩm nào đó. Sản phẩm bồn chứa nước inox Toàn Mỹ đă rất quen
thuộc trên thị trường, nhưng bên cạnh đó lại xuất hiện một cái tên
Hoàn Mỹ sản xuất cùng loại sản phẩm khiến người tiêu dùng lúng túng
khi lựa chọn. Vậy đâu là thương hiệu thật, đâu là giả?
Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện kinh doanh cho các
doanh nghiệp, tuy nhiên cũng đ̣i hỏi các doanh nghiệp tuân thủ
mọiquy định, trong đó có quy định bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp(
SHCN) đối với nhăn hiệu hàng hóa( NHHH). Nhận thức được vấn đề đó
cũng như coi giá trị của thương hiệu là tài sản lớn nhất của doanh
nghiệp, tháng 7/2001, Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Toàn Mỹ
B́nh Dương ( tỉnh B́nh Dương) đă nộp đơn đăng kư NHHH tại Cục Sở hữu
trí tuệ (Cục SHTT) - Bộ Khoa học và Công nghệ và chính thức được Cục
SHTT cấp giấy chứng nhận đăng kư NHHH số 52545 ngày 6/2/2004 đối với
nhăn hiệu “Toàn Mỹ”, bảo hộ cho sản phẩm (bồn chứa nước làm bằng
inox) thuộc nhóm 06 và các nhóm khác, có hiệu lực trên toàn lănh thổ
Việt Nam đến ngày 30/7/2011.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của sự cạnh tranh lành mạnh trong nền
kinh tế, theo đó, mỗi doanh nghiệp đều có nhu cầu sử dụng một hoặc
một vài nhăn hiệu cho sản phẩm của ḿnh, để phân biệt với sản phẩm
cùng loại của nhà sản xuất khác, nhờ vậy, người tiêu dùng có thể lựa
chọn và mua đúng sản phẩm mà ḿnh ưa thích. V́ lẽ đó, pháp luật
không cho phép bất cứ ai đăng kư, sử dụng nhăn hiệu trùng lặp hoặc
tương tự, gây nhẫm lẫn với nhăn hiệu của người khác đang được bảo hộ.
Không lâu sau đó bồn chứa nước inox mang nhăn hiệu Toàn Mỹ nhanh
chóng chiếm lĩnh được thị trường. Thấy loại sản phẩm này có thể "làm
ăn" được Công ty TNHH Thương mại Bạch Đằng (ở Thành phố Đà Nẵng) đă
sản xuất và tung ra sản phẩm bồn chứa nước làm bằng inox có h́nh
thức giống hệt bồn chứa nước của Toàn Mỹ từ kiểu dáng tới màu sắc...,
mang nhăn hiệu Hoàn Mỹ. Do đó, người tiêu dùng bị nhầm lẫn giữa hai
nhăn hiệu, thậm chí c̣n không biết nhăn hiệu nào có trước, nhăn hiệu
nào có sau, nhăn hiệu nào đă được đăng kư bảo hộ và phân vân về chất
lượng sản phẩm. Hậu quả là, sản phẩm của
Công ty Toàn Mỹ bị rơi vào thế cạnh tranh trực diện, ảnh hưởng lớn
tới uy tín, thị phần...
Không thể im lặng trước việc thương hiệu của ḿnh bị "nuốt" dần,
Công ty Toàn Mỹ đă gửi đơn khiếu nại về hành vi xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp của Công ty Bạch Đằng đối với nhăn hiệu “Toàn Mỹ”lên
Cục SHTT.
Ngày 11/8/2004, Cục SHTT có ư kiến kết luận là công ty Bạch Đằng đă
có hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với NHHH được quy định tại Điều
805, Bộ luật Dân sự để phúc đáp Công văn số 1490/CV ngày 2/8/2004
của Công ty SHTT Winco-đại diện cho Công ty Toàn Mỹ-khiếu nại hành
vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhăn hiệu “Toàn Mỹ". Theo đó, mẫu sản
phẩm bồn chứa nước làm bằng inox mang nhăn hiệu “Hoàn Mỹ” tương tự
với nhăn hiệu “Toàn Mỹ” về ư nghĩa, phát âm và kết cấu từ (chỉ khác
chữ T và chữ H). Do vậy, việc sử dụng nhăn hiệu “Hoàn Mỹ” trong sản
xuất, lưu hành các sản phẩm bồn chứa nước làm bằng inox mà không
được sự đồng ư của chủ nhăn hiệu “Toàn Mỹ”, là Công ty Toàn Mỹ, sẽ
gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Bày tỏ ư kiến trước kết luận của Cục SHTT, Luật sư Lê Xuân Hoàng -
Phó Tổng giám đốc Công ty SHTT Winco cho rằng, vụ việc này, một lần
nữa lại chứng tỏ sự thắng thế của “chính nghĩa” và đương nhiên là
Công ty Bạch Đằng sẽ bị xử lư. Ông Hoàng cũng cho biết, hiện tượng
nhiều công ty có động cơ không lành mạnh, sản xuất, kinh doanh những
sản phẩm mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với NHHH
đang được bảo hộ, nhằm lợi dụng uy tín của những nhăn hiệu có trước...
đă trở nên rất phổ biến, nhưng đồng thời, số lượng những đối tượng
vi phạm bị xử lư cũng đă tăng lên, do các doanh nghiệp đă có ư thức
tự bảo vệ ḿnh thông qua việc đăng kư bảo hộ cho sản phẩm.
Hoàng Anh thực hiện
Nguồn tin lấy từ: www.vtv.vn
5. Xúc xích Đức của người
Việt
Hai người bạn (một Việt,
một Đức) cùng chung ư tưởng sản xuất xúc xích Đức tại Việt Nam. Chất
lượng đạt tiêu chuẩn Đức, giá bằng 1/6 hàng nhập, thương hiệu xúc
xích Đức Việt ngày càng nổi danh.
Hà Nội một chiều đông, trong một quán nhậu b́nh dân có hai người đàn
ông trầm ngâm. Người đàn ông Việt Nam chừng 50 tuổi là Mai Huy Tân,
cán bộ của một công ty sản xuất phụ tùng ôtô của Đức tại Việt Nam,
từng là nghiên cứu sinh và tiến sĩ toán - kinh tế tại Đại học tổng
hợp Martin - Luther ở Haller (Đức). Vị khách nước ngoài là Michael
Campioni, chủ một doanh nghiệp sản xuất
cửa kính - nhựa ở Đức và từng là nhân viên Sứ quán CHDC Đức tại Hà
Nội. Câu chuyện hôm ấy của họ không vui: chuyến khảo sát thị trường
cho mặt hàng họ dự định sản xuất cho kết quả xấu, cuộc thù tạc này
để “tiễn đưa” dự định làm ăn đó. Ông Tân động viên bạn: “Người Việt
Nam không có cửa nhựa th́ có cửa nhôm, cửa gỗ. Và nếu năm nay chưa
có cửa đẹp, năm sau có cũng chẳng sao. Chỉ có ăn uống như chúng ta
thế này ai cũng muốn và lúc nào cũng cần”. Người bạn Đức hỏi lại:
“Hay ta đem thức ăn đến bán? Vậy tôi có thể bán thức ăn ǵ cho người
Việt Nam? Quê tôi chỉ có món xúc xích”. Thật thú vị, quê hương của
Michael là vùng Thueringen, nơi có món xúc xích nổi tiếng. Cả hai
cùng bật ra: xúc xích vùng Thueringen bán ở Việt Nam? Tại sao không
nhỉ?
“Qua giây phút “định mệnh”, tôi bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc
về dự định này”- ông Tân kể. Thế là người bạn Đức trở về vùng quê
thơm lừng hương xúc xích để khảo sát, t́m hiểu và anh bạn Việt cũng
đôn đáo t́m hiểu, khảo sát để đưa xúc xích Đức đến Việt Nam.
Một nhà máy nhỏ mang tên Công ty TNHH Đức Việt ra đời, tọa lạc trên
300m2 của phường Thanh Xuân, Đống Đa (nay là Q.Thanh Xuân, Hà Nội),
thuê từ nhà kho một doanh nghiệp nhà nước. Nhà máy nhỏ nhưng sạch,
gọn và đáp ứng tất cả tiêu chuẩn công nghệ của xúc xích Thueringen.
Các chuyên gia máy và công nghệ được mời từ Đức sang để hướng dẫn và
tổ chức sản xuất. Vấn đề là thị trường. Mục tiêu số một: bán hàng
cho những người đă từng ăn xúc xích Đức. Đó là người Đức (và người
phương Tây khác) ở Hà Nội và người Hà Nội từng ở Đức. Con số này
khoảng trên 2 vạn. Mục tiêu tiếp theo là khách hàng trung lưu trở
lên, khách hàng đă và sẽ ăn đồ Tây. Cách tiếp cận: thông qua các tổ
chức, cộng đồng người nước ngoài ở Hà Nội, các khách sạn, nhà hàng,
quán ăn... Ngày 7-9-2000, chiếc xúc xích Thueringen “made in Việt
Nam” đầu tiên của Đức Việt ra ḷ. 200 thực khách là người Đức “xịn”
và những người Việt Nam sành ăn món Đức nhất được mời đến thưởng
thức. Tất cả đều chung một lời khen: đạt tiêu chuẩn Đức!
Nhưng chỉ mấy tháng sau nhà máy đóng cửa. Hàng Đức Việt không bán
được v́ tại những nhà hàng, khách sạn quốc tế vẫn có xúc xích
Thueringen, nhập khẩu từ Đức và bán với giá 3 USD/chiếc. Ngoài quán
bia, siêu thị vẫn có xúc xích của các nhà sản xuất nội. Hàng Đức
Việt chỉ bằng 1/6 giá nhập ngoại nhưng không bán được nhiều cho Tây
v́ lượng khách này rất ít, khách Việt thấy giá xúc xích Đức Việt cao
hơn loại khác nên từ chối. Chất lượng hàng đă tốt, quản lư doanh
nghiệp ổn, nhưng v́ sản xuất cầm chừng, thu không đủ chi nên Đức
Việt tạm ngừng hoạt động. Rà soát lại toàn bộ các khâu, vấn đề được
phát hiện là khâu tiếp thị.
Chiến lược tiếp thị được thay đổi cơ bản: khách hàng số một là người
Việt Nam. Thương hiệu xúc xích Đức Việt được quảng bá trên các
phương tiện thông tin; từ vài sản phẩm ban đầu, Đức Việt mở rộng
thêm hàng chục sản phẩm khác đều có hương vị, công nghệ “họ hàng”
với xúc xích. Giám đốc Mai Huy Tân t́m một phó giám đốc phụ trách
tiếp thị, chiến lược tuyển dụng nhân sự, đầu tư tài chính tương ứng
cũng khởi động. Tại các siêu thị, nhà hàng, quán bia luôn có từng
đoàn tiếp thị viên của Đức Việt mặc đồng phục gắn thẻ, đeo găng tay,
tạp dề, mũ vải bên những xe đẩy có ḷ nướng trực tiếp những miếng
xúc xích Thueringen, hong khói, vườn bia, salami, thăn lợn hong khói...
Sau một năm, doanh thu của công ty tăng 100%, dây chuyền phát huy
hết công suất. Những năm sau đó tốc độ tăng trưởng này vẫn được duy
tŕ. Đến nay, một ḷ mổ công suất 200 con heo/ngày với công nghệ,
dây chuyền cũng 100% của Đức cho sản phẩm thịt tươi đạt độ ngon,
sạch đă được Đức Việt vận hành. Đức Việt đang từng bước vươn tới mô
h́nh một tập đoàn nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ thực phẩm sạch quy
mô, khoa học.
Tuổi trẻ thực hiện
Nguồn tin lấy từ:www.nhandan.com.vn
|