Home-Left Menu
Home-HorizontalMenu

BẢN TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 07
 

(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật LEADCO)

Địa chỉ: 85 Trần Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email: leadco@hn.vnn.vn

 

Để luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy bấm vào đây. Để được tư vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy bấm vào đây.


Bản tin Sở hữu trí tuệ tuần này xin gửi đến bạn đọc một số tin tức chung về Sở hữu trí tuệ:

1. Chữ sạch và xanh trong thương hiệu

 

Đă qua rồi cái thời người tiêu dùng chỉ biết lo ăn no, mặc ấm. Giờ đây hẳn nhiều người đang nghĩ đến việc ăn ngon, mặc đẹp. Hơn thế, một số xu hướng tâm lư người tiêu dùng đang dần chuyển sang một bậc cao hơn về nhu cầu. Đó là ăn sao cho khỏe, sống hài ḥa với môi trường, và họ sẵn sàng đón nhận những sản phẩm “sạch và xanh”...

 

Trước những nhu cầu “sạch và xanh” này, một loạt vấn đề nan giải đang được đặt ra đối với các doanh nghiệp trong nước. Nó liên quan đến việc sử dụng nguồn nguyên vật liệu tự nhiên, nhiên liệu, hóa chất không gây độc hại, lắp đặt hệ thống quản lư chất lượng an toàn vệ sinh và hệ thống xử lư chất thải. Không chỉ ở nước ta, vấn đề này là rất cấp thiết trước nguy cơ xuất hiện ngày càng nhiều các ổ bệnh tiềm tàng trong môi trường chung quanh ở các nước châu Á. Đây thật sự là nguy cơ đối với sức khỏe và tính mạng của nhiều người sống trong cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy những thương hiệu nào sớm nhận thức được vai tṛ và thể hiện trách nhiệm “sạch và xanh” của ḿnh sẽ chiếm được niềm tin, sự đón nhận của người tiêu dùng, cộng đồng và xă hội.

The Bodyshop - Chữ “xanh” tạo nên sự khác biệt...

Năm 1976, Anita Roddick bắt đầu mở cửa hàng bán mỹ phẩm chăm sóc da mặt mang tên The Bodyshop đầu tiên tại vùng Brighton (Anh). Tuy đơn thuần là một công ty kinh doanh mỹ phẩm nhưng nhà sáng lập này đă lấy việc bảo vệ quyền con người và môi trường làm triết lư kinh doanh. Cách tiếp cận này hoàn toàn khác với hầu hết các thương hiệu mỹ phẩm khác chủ yếu đề cao những lợi ích lư tính và cảm tính thông qua việc sử dụng h́nh ảnh người mẫu quyến rũ cùng sự hỗ trợ đắc lực của quảng cáo và bao b́ bắt mắt. Và The Bodyshop đă thể hiện nhất quán phương châm hoạt động của ḿnh ngay từ đầu.

The Bodyshop không chỉ bán mỹ phẩm mà c̣n tạo ra một cộng đồng toàn cầu ủng hộ những lợi ích chung, từ việc sử dụng nguyên liệu hoàn toàn từ thiên nhiên, bao b́ tái chế, cho đến cách bài trí pḥng trưng bày sản phẩm. Điểm khác biệt nhất của thương hiệu này là theo đuổi những hoạt động về xă hội và môi trường. Cụ thể là cuộc vận động thu thập một triệu chữ kư vào năm 1989 với lời kêu gọi: “Hăy ngừng đốt rừng Amazon” và các hoạt động khác nhằm ủng hộ việc tái chế và chống thử nghiệm hóa mỹ phẩm trên động vật.

Sự thành công của thương hiệu này không đơn thuần chỉ do gắn chữ “xanh” lên tất cả các vật phẩm tiếp thị quảng cáo và hô hào suông để đánh bóng thương hiệu mà c̣n qua tất cả các hoạt động, từ sử dụng nguồn nguyên liệu cho đến sản phẩm, dịch vụ và chính những con người trong công ty. Có như vậy, người tiêu dùng mới nhận thấy giá trị mà một thương hiệu “xanh” mang lại là đúng sự thật và có ư nghĩa cho cộng đồng.

Về mặt quản lư thương hiệu nội bộ, chính ḷng đam mê, nhiệt huyết v́ cộng đồng của nhà sáng lập này đă truyền cảm cho nhân viên và tạo thành bản sắc văn hóa của công ty. Nó không chỉ ảnh hưởng lên nhận thức của nhân viên mà c̣n lan tỏa sang khách hàng ủng hộ trên toàn cầu. Điều này đă giúp thương hiệu này tách khỏi số đông.

Quản lư “sạch và xanh” kém - Hậu quả khó lường...

Đối với một số ngành kinh doanh, đặc biệt là ngành thực phẩm, số phận của một thương hiệu sẽ rất mong manh nếu đi ngược với chiều hướng “sạch và xanh”. Trên thế giới, có nhiều thương hiệu trong ngành thực phẩm, nước uống sớm bị “lụi tàn” khi không làm tṛn trách nhiệm của ḿnh đối với người tiêu dùng. Điển h́nh là thương hiệu sữa cao cấp Snow Brand (Nhật Bản) gây ngộ độc cho hàng chục ngàn người tiêu dùng vào năm 2000, hay trường hợp nước tinh khiết Perrier bị phát hiện có độc tố vào năm 1990 (theo Sự thật về 100 thất bại thương hiệu lớn nhất của mọi thời đại - Nhà Xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh). Liên quan đến môi trường, một số thương hiệu dầu nhớt danh tiếng trên thế giới cũng đă phải “lao đao” trước hành động tẩy chay của người tiêu dùng khi thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

Khi gặp sự cố về sản phẩm hay dịch vụ, đặc biệt là ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người, lănh đạo doanh nghiệp cần sẵn sàng đặt lợi ích của người tiêu dùng lên hàng đầu chứ không chỉ lo mất một khoản chi phí lớn trước mắt cho việc xử lư khủng hoảng. Trong việc xây dựng thương hiệu ngày nay, chữ tín vẫn luôn là tiêu chí được xem trọng hàng đầu.

Chữ “sạch và xanh” không chỉ có ư nghĩa trong ngành thực phẩm hay những sản phẩm trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà nó có thể được mở rộng ra tất cả ngành nghề kinh doanh khác. Từ ngành sản xuất ô tô, xe máy, đồ dùng gia đ́nh cho đến các ngành dịch vụ như bảo hiểm hay ngân hàng đều có thể, bằng cách này hay cách khác, thông qua tài trợ mà đóng góp cho lợi ích chung của cộng đồng. C̣n đối với người tiêu dùng, thông qua việc sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của những thương hiệu “sạch và xanh”, họ nhận thức được lợi ích mang lại cho chính ḿnh, phù hợp với ḿnh và thực sự có ư nghĩa trong cuộc sống. Do vậy, v́ mục tiêu phát triển lâu dài, đầu tư hợp lư cho chữ “sạch và xanh” là việc đáng làm ngay đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam trước thềm WTO.

 

(Theo Thời báo kinh tế Sài G̣n)


2. Hợp tác “nhân đôi thương hiệu”

 

Một số doanh nghiệp chọn hợp tác để nâng cao năng lực cạnh tranh, nhân đôi thành công. Đây là mô h́nh hợp tác nhân đôi thương hiệu vốn đă phổ biến ở nhiều nước, nhưng c̣n khá mới mẻ ở Việt Nam.

 

Theo thông báo mới đây của Văn pḥng đại diện Sony Ericsson tại Việt Nam, từ ngày 5-8-2005, Sony Ericsson và Công ty Bến Thành Audio Video (BTAV) hợp tác trong việc giới thiệu đến công chúng nghe nhạc một phương thức chọn nhạc mới lạ và khá thời thượng. Theo đó, khách hàng sẽ dùng điện thoại Sony Ericsson Walkman Phone W800I để nghe thử và chọn bài hát trước khi quyết định mua một đĩa nhạc CD của BTAV.

Nói nôm na đây là một chiêu mời khách hàng nghe thử nhạc, xài thử sản phẩm trước khi mua. Nói rộng ra, đây là mô h́nh hợp tác theo kiểu “nhân đôi thương hiệu”, “nhân đôi thành công”, vốn phổ biến ở nước ngoài, nhưng c̣n khá mới mẻ ở Việt Nam. Theo đó, thay v́ phải làm từ đầu như đầu tư xây dựng cửa hàng, quảng bá thương hiệu, lôi kéo khách hàng…, nhiều doanh nghiệp (DN) lớn có tên tuổi, mạnh về tài chính chỉ cần kết hợp với một thương hiệu khá mạnh khác (đă có lượng khách hàng quen thuộc tại thị trường nội địa) để tiếp cận người tiêu dùng. Đây là một cách marketing tiết kiệm, hiệu quả và dễ làm.

Ông Ngô Nguyên Kha, Trưởng Văn pḥng đại diện Sony Ericsson tại Việt Nam, cho biết, nói th́ dễ, nhưng để thực hiện quả không hề đơn giản, bởi để làm việc này, một phần thư viện nhạc đồ sộ của BTAV với những album luôn tạo sức hút với giới nghe nhạc của các ca sĩ Mỹ Tâm, Quang Dũng, Thanh Thảo… cùng các nhóm ca MTV, Mây Trắng… phải được “số hóa” và “tải” lên chiếc điện thoại di động Walkman Phone W800I của Sony Ericsson. Đồng thời, Sony Ericsson đầu tư “Góc Walkman Phone” tại các cửa hàng của BTAV và người tiêu dùng sẽ dùng các máy điện thoại này để nghe nhạc với dàn âm thanh mini cắm thẳng vào điện thoại và kho dữ liệu của BTAV.

Theo nhiều chuyên gia tiếp thị, về cơ bản đây là cách tiếp thị khá linh hoạt của Sony Ericsson trong việc chuyển tải đến khách hàng thông điệp là, ngoài việc nghe và nói, Walkman 800I c̣n là một máy nghe nhạc di động. Hơn nữa, thông qua mạng lưới BTAV ở TP Hồ Chí Minh và trên cả nước, Sony Ericsson muốn đẩy mạnh hoạt động tiếp thị sản phẩm của ḿnh. C̣n về phía ḿnh, nhờ có sự hợp tác tay đôi này mà BTAV có thể vừa tiết kiệm được chi phí đầu tư quảng bá thương hiệu, vừa đa dạng hóa sản phẩm âm nhạc của ḿnh theo công nghệ số hóa mà nếu tự làm, BTAV sẽ phải tốn một khoản đầu tư khá lớn.

Với cách làm tương tự, mới đây, Công ty Ford Việt Nam đă rất “khôn ngoan” trong việc chọn các cây xăng làm điểm đầu tư dịch vụ, v́ hệ thống cây xăng gắn liền sản phẩm của Ford là xe hơi và cây xăng luôn được thiết lập tại các vị trí trọng yếu, đóng vị trí quan trọng về giao thông tại các địa phương nên đầu tư vào đây vừa tạo ra thuận lợi cho khách hàng sử dụng, vừa tận dụng yếu tố quảng cáo hữu hiệu cho thương hiệu của ḿnh. Với mục tiêu trở thành liên doanh lớn thứ hai Việt Nam (xét theo doanh số), ngoài việc đầu tư vào thiết kế, sản xuất, đưa thêm nhiều mẫu mă mới vào thị trường Việt Nam, Ford Việt Nam bắt đầu nhắm đến việc đầu tư vào dịch vụ chăm sóc khách hàng với tiêu chí là tăng chỉ số hài ḷng của khách hàng từ mức 70-80% hiện nay lên 80 -90% trong tương lai, thông qua việc công bố chiến lược phụ tùng và xây dựng trạm dịch vụ theo tiêu chuẩn 1S-3S trên quy mô toàn quốc. Theo đó, Ford Việt Nam sẽ thiết lập ba hệ tiêu chuẩn dịch vụ Ford Việt Nam trên toàn quốc (được phân cấp từ 1S đến 3S), trong đó điểm dịch vụ 1S sẽ đảm nhận việc bán các phụ tùng bảo dưỡng định kỳ, điểm 2S (ngoài việc như 1S sẽ đảm nhận thêm việc bán các phụ tùng sửa chữa thông thường, bảo dưỡng định kỳ, làm bảo hành và hỗ trợ cứu hộ) và cao nhất là điểm 3S sẽ đảm nhận thêm việc sữa chữa lớn kèm theo bán và trưng bày xe của Ford.

Dự kiến, từ nay đến tháng 12-2005, Ford Việt Nam sẽ mở rộng mạng lưới dịch vụ theo chuẩn 3S tại Vinh, Hải Pḥng, Nha Trang, Đác Lắc, Quy Nhơn và mở rộng mạng lưới dịch vụ theo chuẩn 1S và 2S tại Lạng Sơn; Thanh Hóa, Đà Lạt và Vũng Tàu. Ngoài ra, thông qua việc kết hợp với các cây xăng, Ford c̣n thiết lập hàng chục điểm bán phụ tùng dọc theo chiều dài đất nước.

Có thể nói, hợp tác kinh doanh để khai thác thương hiệu của nhau là cách làm phổ biến ở nhiều nước phát triển, xu hướng này được các DN gọi là “think win - win”, nghĩa là liên kết để cả hai cùng thắng, cùng có lợi. Theo nhiều DN, triết lư “think win-lose” hợp tác để thu lợi về phần ḿnh, đối tác không có lợi là kiểu làm ăn chụp giựt, không thể tồn tại lâu dài.

Tại Việt Nam, mô h́nh “think win - win” đă xuất hiện trong một vài năm gần đây, nhưng c̣n rất ít và chủ yếu là do ảnh hưởng từ văn hóa kinh doanh của nước ngoài. Điều đáng chú ư là hết trong các hợp tác tay đôi kiểu này thường một trong hai DN là DN “ngoại”, ví dụ như Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam phối hợp cùng Ngân hàng ACB, Pepsi liên kết cùng Kinh Đô… Riêng số DN Việt Nam liên kết với nhau c̣n khá hiếm hoi, như Saigon Co.op và Satra (Tổng công ty Thương mại Sài G̣n), Ngân hàng Đông Á cùng Công ty Điện lực G̣ Vấp.

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, khi thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đang đến gần, áp lực cạnh tranh từ các DN nước ngoài tới DN Việt Nam ngày càng lớn, do vậy, nếu chưa đủ sức lớn mạnh để tự cạnh tranh th́ cách tốt nhất hiện nay là các DN nên t́m cách hợp tác với DN cùng ngành nghề hoặc có ngành nghề liên quan trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, cùng triển khai quảng bá tiếp thị trên nhiều địa bàn. Có như vậy, năng lực cạnh tranh của DN trước thềm hội nhập khu vực và thế giới mới phần nào được đảm bảo và nâng cao.


Theo Đầu tư
 

3. Ngành chè t́m tem đảm bảo

 

Nâng chất lượng để có thương hiệu


Nằm trong top 10 quốc gia có ngành chè phát triển nhất thế giới song giá xuất khẩu lại chỉ bằng 50-70% so với mức trung b́nh của các nước xuất khẩu chè.
Bài toán chất lượng và thương hiệu chính là ch́a khóa để giải quyết vấn đề này của ngành chè Việt Nam. Đặc biệt, trong một cuộc hội thảo mới đây về vấn đề chuẩn hóa chất lượng và đảm bảo uy tín thương hiệu chè quốc gia, hàng loạt những cách thức nhằm t́m ra chiếc ch́a khóa ấy đă được các chuyên gia và đại diện doanh nghiệp đề cập rất bức xúc.


Có hàng mà chẳng có tên


Có lịch sử hơn 50 năm phát triển, ngành chè Việt Nam hiện đang đứng thứ 5 về diện tích và thứ 8 về sản lượng chè xuất khẩu với hơn 120.000 ha chè, tổng sản phẩm quy khô đạt 140.000 tấn trong đó xuất khẩu đạt 105.000 tấn. Hiện ngành chè đă có tới 630 đơn vị với 220 trong số đó tham gia hoạt động xuất khẩu và đă lọt vào top 10 quốc gia có ngành chè phát triển nhất thế giới với thương hiệu chè Việt.


Theo TS. Nguyễn Kim Phong, Chủ tịch Hiệp hội Chè, những thách thức đồng thời là nguyên nhân dẫn đến sự thành bại của ngành chè chính là chất lượng sản phẩm. Cụ thể, các sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam không đồng nhất về chủng loại, mẫu mă, nội chất và thiếu hương vị đặc trưng, tức là chưa có một đảm bảo vững chắc nào về mặt thương hiệu khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.


Theo quan điểm của TS. Trần Văn Giá, không phải ngành chè Việt Nam chưa có thương hiệu mà vấn đề ở chỗ là chưa có được cái tem dán lên để bảo đảm cho thương hiệu đó. Nhằm minh chứng cho nhận định ấy, ông Phong dẫn một ví dụ: rất nhiều khách hàng, nhiều bà con khi gặp tôi đă thắc mắc, ông Phong ơi, chè nào ngon hả ông? Chè nào không độc hả ông? Uống vào mà chết th́ khổ lắm! Nghe vậy, tôi thật sự đau ḷng.


Làm sao để có thương hiệu?


Chất lượng sản phẩm là cái tem đảo bảo cho thương hiệu, thương hiệu là yếu tố tối quan trọng để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đó là mối quan hệ chặt chẽ mà ngành chè đang đặt ra. Ông Giá cho rằng, chúng ta phải làm sao để tới đây, khi uống chè Việt Nam khách hàng nước ngoài biết ngay đó là chè Việt Nam mà không cần nh́n đến thương hiệu. Nhưng làm được việc đó không dễ. Theo TS. Trần Hữu Tài, Phó tổng giám đốc Tổng công ty chè Việt Nam, bất cập đầu tiên mà ngành chè đang vấp phải chính là việc trồng và chế biến không tập trung. Cụ thể là việc vùng trồng chè thiếu sự gắn kết với nhà sản xuất. Do đó, giải pháp trước nhất chính là việc xây dựng nhà máy gắn với vùng nguyên liệu.


Dẫn chứng hùng hồn nhất cho nhận định của TS. Tài chính là câu chuyện mà ông R. Dasgupta, Giám đốc Công ty chè Phú Bền mang đến. Ông Dasgupta khẳng định, hiện Công ty chè Phú Bền là doanh nghiệp chè có công nghệ và tiêu chuẩn quản lư chất lượng vào hàng tốt nhất Việt Nam song việc cạnh tranh lại vô cùng khó, khó khăn ngay từ khâu thu mua nguyên liệu đến sản xuất.


Tại sao lại như thế? Ông Dasgupta khẳng định luôn: đó là v́ ngay vùng Phú Thọ (mà hầu như chỉ tập trung ở 3-4 huyện) đă có đến hơn 30 doanh nghiệp, nhà máy và cơ sở sản xuất chui vào dẫn đến thực trạng là nguyên liệu chỉ đáp ứng được hơn 20% nhu cầu và công suất của các đơn vị này. Khó khăn thứ hai, theo TS. Nguyễn Kim Phong, là ở tập quán sản xuất của người trồng chè. Ông kể, một lần công tác ở Yên Bái, tôi không khỏi xót xa khi thấy bà con ta sao, phơi ngay hai bên đường. Sẽ không có một nền công nghiệp chè phát triển nào lại c̣n kiểu sản xuất như thế. Vậy thử hỏi tại sao diện tích th́ lớn, xuất khẩu th́ nhiều mà vị thế lại không xứng tầm với điều đó? Theo TS. Trần Văn Giá, trước mắt cần phải thực hiện tốt các công việc như: đổi mới giống và tạo ra một cơ cấu giống hợp lư; hiện đại hóa nông nghiệp với việc chặn đứng t́nh trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, đầu tư và đổi mới cơ cấu giống phù hợp với đặc thù từng vùng, từng địa phương; hiện đại hóa công nghiệp chế biến với việc đa dạng hóa sản phẩm gắn với nhu cầu thị trường, chuẩn hóa dây chuyền chế biến; tăng cường các giải pháp thị trường như tham gia các hiệp hội, lập sàn giao dịch, xây dựng và quảng bá thương hiệu.
 

Đức Thọ
Thời báo Kinh tế Việt Nam
 

4. Lời hứa thương hiệu

 

Hăy tưởng tượng việc xây dựng thương hiệu giống như một tảng băng trôi trên mặt biển. Tảng băng bị chia thành hai phần, phần nổi bên trên và phần ch́m phía dưới mặt biển.


Phần nổi

Bao gồm những thứ mà chúng ta có thể thấy hoặc nghe mỗi ngày như tên, logo, khẩu hiệu, phim quảng cáo, sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Nói theo từ ngữ chuyên ngành là người tiêu dùng có thể nhận biết được sự xuất hiện của một thương hiệu trên thị trường thông qua một hệ thống nhận diện riêng của nó.

Vấn đề đặt ra ở đây là liệu doanh nghiệp có nên bắt đầu xây dựng thương hiệu bằng một logo, câu khẩu hiệu hay một phim quảng cáo ấn tượng?

Câu trả lời là doanh nghiệp chỉ nên bắt đầu xuất hiện trên phần nổi một khi đă chuẩn bị xong các yếu tố được đề cập trong phần ch́m của tảng băng. Giả sử việc tổ chức một sự kiện nhằm tung sản phẩm hay một phim quảng cáo ấn tượng tạo được sự nhận biết rộng răi và thúc đẩy khách hàng dùng thử lần đầu. Nhưng sau đó khách hàng nhận thấy chất lượng sản phẩm hay dịch vụ không đúng như thông điệp quảng cáo hay câu khẩu hiệu đưa ra th́ sao? Lúc đó ai cũng dễ dàng kết luận rằng đó chỉ những lời hứa suông, nếu chưa đến mức cảm thấy ḿnh bị lừa. Và chuyện ǵ xảy ra kế tiếp th́ ai cũng biết. Theo một số liệu điều tra tại Mỹ, 87% khách hàng bất măn về chất lượng sản phẩm hay một dịch vụ nào đó sẽ nói không tốt về doanh nghiệp đó cho ít nhất là chín người khác(*). Con số đáng để ta suy ngẫm.

Trong việc xây dựng thương hiệu, sự nhận biết rộng răi phần nổi tảng băng không thôi chưa đủ để tạo nên một thương hiệu. Muốn có được sự công nhận sản phẩm hay dịch vụ cần phải vượt qua sự đánh giá bằng chính trải nghiệm của khách hàng. Nếu thấy thật sự đúng như thông điệp, lời hứa mà doanh nghiệp đưa ra th́ mới có sự trải nghiệm lần hai, rồi dần dần theo thời gian mới có sự h́nh thành mối quan hệ hai chiều giữa nhăn hiệu và người tiêu dùng. Lúc đó, ư nghĩa của một thương hiệu mới chính thức trở thành hiện thực.

Vậy th́ doanh nghiệp nên bắt đầu xây dựng thương hiệu từ đâu?

Phần ch́m

Đó là phần mà nhiều doanh nghiệp hay quên hoặc chưa h́nh dung hết. Nói gọn, đó là một bộ máy hoạt động bao gồm ba yếu tố chính như ta đă biết là tài lực, nhân lực và vật lực. Bộ máy này phải có khả năng hỗ trợ việc thực hiện lời hứa mà doanh nghiệp đưa ra trên phần nổi. Đây là nền tảng mà doanh nghiệp nào cũng phải chuẩn bị khi bắt đầu xây dựng một thương hiệu.

Trong phạm vi bài viết này, chỉ xin đề cập đến yếu tố nhân lực. Yếu tố con người luôn là vấn đề đau đầu nhất đối với đa số doanh nghiệp. Ngoài một ư tưởng hay cho thương hiệu, điều cần có trước hết có lẽ là nhận thức và tầm nh́n về thương hiệu của ban lănh đạo doanh nghiệp. Không có sự dẫn dắt của lănh đạo th́ toàn thể nhân viên khó ḷng biết ḿnh nên đi hướng nào và sẽ đi về đâu. Nó đ̣i hỏi sự cam kết đầu tư nguồn lực cho việc thực hiện một chiến lược dài hạn. Trong đó, mục tiêu cốt lơi là tạo được chữ tín trong ḷng khách hàng thông qua sự nhất quán trong truyền thông và cách thể hiện.

Để có được chữ tín th́ doanh nghiệp cần thiết lập một cơ cấu tổ chức nhân sự phù hợp để hỗ trợ cho lời hứa tại mọi điểm tiếp xúc có thể có với khách hàng, không chỉ một lần mà là nhiều lần lặp đi lặp lại. Muốn làm được điều đó, về lâu dài không thể thiếu sự đóng góp một cách tự nguyện của mọi cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp, từ ông giám đốc làm gương cho đến anh bảo vệ, cô tiếp tân, nhân viên bán hàng và hậu măi.

Thực tế hiện nay cho thấy doanh nghiệp hầu như không có những chương tŕnh đào tạo, hội thảo chuyên đề trong nội bộ nhằm trau dồi kiến thức về thương hiệu cho toàn thể nhân viên. Trong khi đó, những buổi thảo luận nội bộ này sẽ giúp nhân viên nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu, cùng chia sẻ tầm nh́n, giá trị, lợi ích mang lại. Từ đó, họ nh́n thấy được vai tṛ của ḿnh và hănh diện khi được đóng góp vào mục tiêu nhắm đến của doanh nghiệp theo từng giai đoạn. Một khi hiểu và có động lực làm việc th́ họ sẽ thể hiện qua phong cách phục vụ khách hàng và trở thành những vị đại sứ đắc lực cho thương hiệu.

Thích ra biển mà chưa biết bơi…

Kinh nghiệm tư vấn cho thấy nhiều doanh nghiệp trong nước hiện nay chỉ muốn xuất hiện trên phần nổi của tảng băng mà quên đi hoặc không thấy được tầm quan trọng của phần ch́m. Có ngân sách trong tay, doanh nghiệp thường nghĩ đến việc quảng cáo càng rầm rộ càng tốt mà không nghĩ rằng quảng cáo chưa đủ để làm nên một thương hiệu. Điều này cũng giống như việc bạn chỉ mới có thể nằm nổi trên mặt nước mà đă đ̣i bơi ra biển.V́ thế nguy cơ bị ngọn sóng hất văng là điều khó tránh. Thực tế đă chứng minh không ít nhăn hiệu đă mất hút sau một thời gian ngắn “vùng vẫy” trên các phương tiện truyền thông.

Chưa tính đến những mối hiểm họa sóng, gió, băo tiềm tàng từ thị trường và đối thủ, khả năng dẫn đến t́nh trạng doanh số sụt giảm khi không c̣n những chiến dịch quảng cáo hay khuyến măi là lớn. Lúc đó, doanh nghiệp dễ rơi vào những “cuộc chiến” về giá. Và rồi kết cuộc số phận của những thương hiệu trên là mong manh khi nó chỉ có thể thu hút những khách hàng chỉ quan tâm đến giá.

Trong việc xây dựng thương hiệu, tính tiên phong và tốc độ bao giờ cũng là tiêu chí hàng đầu. Thế nhưng điều đó chỉ có ư nghĩa khi nào bộ máy doanh nghiệp có thể thực hiện được lời hứa bằng việc cung cấp sự trải nghiệm tốt cho khách hàng.

Khẩu hiệu cũng như lời hứa của một chàng trai với cô vợ chưa cưới của ḿnh. Nếu hứa thật nhiều mà chẳng làm được ǵ th́ thật đáng thất vọng! Thế nên thà không hứa th́ thôi chứ một khi đă hứa th́ nên làm nhiều hơn những ǵ đă hứa.

Nh́n sang Trung Quốc, chúng ta có thể học hỏi nhiều điều từ tập đoàn Haier. Một thương hiệu đang vươn lên trở thành thương hiệu quốc tế đứng đầu trong ngành sản xuất và kinh doanh đồ điện gia dụng. Sau hơn 20 năm tạo dựng, Haier đă chiếm được ḷng tin của người tiêu dùng Trung Quốc và thế giới qua câu khẩu hiệu “sincerely forever”, tạm dịch là “măi măi chân thành”. Haier đă thực hiện một cách triệt để lời hứa đó trong hoạt động kinh doanh của ḿnh, từ cam kết chỉ cung cấp sản phẩm đạt chất lượng cho đến cung cách phục vụ hậu măi chu đáo, ngay cả đối với khách hàng ở xa phải cử nhân viên đi về bằng máy bay. Với Haier, chữ tín luôn được đặt lên hàng đầu chứ không phải là việc chạy đua theo doanh số trước mắt.

Doanh nghiệp không giữ được lời hứa th́ không thể tạo lập mối quan hệ lâu bền với khách hàng. Và nếu không thể tạo lập được mối quan hệ gắn bó với khách hàng th́ việc xây dựng thương hiệu cũng giống như tảng băng ch́m dần xuống ḷng đại dương vậy.

-----------------

(*) Tham khảo từ sách Thị trường - Chiến lược - Cơ cấu của GS. Tôn Thất Nguyễn Thiêm.
 


Thời báo kinh tế Sài G̣n

5.Thương hiệu Việt cho mặt hàng mới
 

KyVy đi lên từ chất lượng sản phẩm


Tuy chỉ mới thành lập được 4 năm nhưng các thương hiệu tă giấy và khăn ướt của KyVy mang tên BiNo, BinBin, BiBo, KyHope, Babilon, KiTy đă trở thành những cái tên khá thân thuộc đối với người tiêu dùng Việt Nam. Không chỉ ở trong nước, sản phẩm tă trẻ em BiNo của KyVy c̣n có mặt ở các nước trong khu vực và EU, góp phần làm rạng danh thương hiệu tă giấy Việt.


Ông Mai Hoàng Sơn, Giám đốc KyVy nhớ lại ngày mới thành lập công ty: “Thời điểm trước năm 2001, sản phẩm tă giấy cho trẻ em trên thị trường không nhiều, chủ yếu tập trung vào một số sản phẩm của các tập đoàn lớn như Pamper (P&G), Huggie (Kimberly Clark)... và giá cả khá đắt, từ 3.500đ - 4.500đ/miếng, thế nhưng người tiêu dùng Việt Nam lúc đó không có sự lựa chọn nào khác.


Xuất phát từ ư tưởng mong muốn mang đến cho các bà mẹ những tiện ích trong việc chăm sóc con cái và được hưởng lợi từ sản phẩm có giá rẻ, chất lượng tương đương nhập khẩu, Công ty Kyvy đă ra đời, lúc đó là vào đầu năm 2001. Sáu tháng sau, chúng tôi tung ra sản phẩm đầu tiên mang nhăn hiệu BiNo, sản phẩm này có chất lượng tương đương hàng nhập khẩu, giá lại rẻ hơn từ 1/2 - 2/3, khoảng từ 1.900đ - 2.500đ/miếng nên đă được người tiêu dùng Việt Nam ủng hộ rất nhiệt t́nh. Phải nói thời gian 6 tháng cuối năm 2001 là thời điểm rất thành công của chúng tôi.


“Tuy nhiên, công việc kinh doanh đâu chỉ đơn giản thế”, ông Thái Tuấn Dũng - Chủ tịch HĐQT KyVy - tiếp lời. Sau 06 tháng trên đỉnh vinh quang, KyVy phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các đối thủ. “Họ đă phản công lại. Họ là những tập đoàn lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, tung tiền ra quảng cáo, làm các chương tŕnh khuyến mại và trực tiếp giảm giá thành sản phẩm xuống ngang bằng với sản phẩm của chúng tôi. Mặt khác, sau một thời gian xâm nhập thị trường Việt Nam, một số công ty sản xuất tă giấy của nước ngoài đă xây dựng nhà máy tại chỗ. Không c̣n ưu thế của công ty có nhà máy sản xuất tă giấy duy nhất trong nước nữa, KyVy phải đối diện với một loạt khó khăn do tài chính hạn chế, chi phí ban đầu cao.


Hơn nữa, chúng tôi chỉ có sản phẩm duy nhất là BiNo nên sự chia sẻ rủi ro đối với sản phẩm không có. Trước t́nh h́nh đó, một số anh em trong Ban giám đốc đă mất niềm tin và ra đi. Có thể nói, từ khi bước chân ra thương trường, đây là lần đầu tiên tôi thất bại nên cũng bị sốc. Để vượt qua, tôi cùng một số anh em ngồi lại, bắt tay nhau cùng vực dậy công ty. Sau nhiều lần suy tính, chúng tôi quyết định chọn cách “đánh du kích” của cha ông: Chọn thị trường mà đối thủ c̣n bỏ ngỏ, đưa sản phẩm của công ty đến từng góc phố.


Mặt khác, chúng tôi tăng cường củng cố nội bộ, liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá sản phẩm. Đưa ra nhiều sản phẩm ở nhiều phân khúc khác nhau và đáp ứng cho nhiều phân khúc khách hàng khác nhau. Từ một sản phẩm ban đầu là tă giấy BiNo đến cuối năm 2002, chúng tôi đă có thêm tă giấy BinBin, BiBo; khăn ướt BiNo, Babilon, KiTy; sản phẩm cho người lớn KyHope, tấm lót Happy.


Sự đầu tư mở rộng của KyVy sang các mặt hàng mới đă đem lại sự thành công đáng kể cho công ty, nhất là sản phẩm tă người lớn,v́ hiện tại nhăn hiệu tă dành cho người lớn, người bệnh tại Việt Nam rất ít, chỉ có vài nhăn hiệu như KyHope, RealCare, Dr.P, trong đó KyHope là nhăn hiệu duy nhất của Việt Nam, c̣n lại đều là nhập khẩu nên giá thành chênh lệch khá cao.


Cũng như BiNo, khi KyHope ra đời, KyVy đă nhận được sự ủng hộ rất nhiệt t́nh của khách hàng. Rất nhiều ư kiến phản hồi từ khách hàng về sản phẩm đă được gửi về cho công ty. Tất cả đều là những lá thư cảm ơn công ty về sản phẩm KyHope, sản phẩm đă giúp đỡ họ và người thân rất nhiều trong việc chăm sóc, vệ sinh cho người bệnh cũng như môi trường xung quanh. Những nguyên liệu sử dụng để sản xuất sản phẩm của chúng tôi đều được qua kiểm nghiệm và được giám định bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và Nhật Bản...


Hiện tại KyVy có một chỗ đứng vững chắc trên thương trường. Liên tục qua 4 năm thành lập, doanh thu và lợi nhuận hàng năm của công ty luôn tăng cao với tốc độ tăng trưởng b́nh quân là 30%. Về sản phẩm tă giấy trẻ em, công ty chiếm đến 42% thị phần, trong nước, c̣n tă giấy cho người lớn thị phần đạt trên 60%.
 


Tú Uyên
Thời báo Kinh tế Việt Nam
 

6. Thương hiệu "mẹ" của ngành dệt may

 

Vinatex hướng tới tập đoàn dệt may hàng đầu


Với giá trị kim ngạch XK đạt được hơn 1,03 tỷ USD (tính cả các đơn vị CPH), có thể xem năm 2004 là năm XK thành công của Tcty dệt may VN (Vinatex). Kết quả đạt được này thật đáng ghi nhận bởi, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt trên thị trường dệt may, Vinatex vẫn trụ vững và luôn duy tŕ là cánh chim đầu đàn của ngành dệt may VN.
Theo ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch HĐQT Vinatex, điều đạt được lớn hơn không chỉ là vấn đề tăng trưởng doanh số hàng năm, mà là ở chỗ Vinatex đă hoạch định cho ḿnh một chiến lược phát triển dài hạn.


Điều đáng ghi nhận hơn cả trong năm 2004 là, Vinatex đă nỗ lực hết ḿnh trong đầu tư mặc dù t́nh h́nh tài chính c̣n gặp nhiều khó khăn, cũng như nguồn vốn ưu đăi của Nhà nước c̣n hạn hẹp. Năm 2004 Vinatex đă phê duyệt được 35 dự án với tổng vốn đầu tư 1.514,6 tỷ đồng, trong đó riêng đầu tư cho ngành dệt 13 dự án với tổng vốn đầu tư 864,1 tỷ đồng, ngành may 13 dự án với tổng mức đầu tư 295 tỷ đ, các ngành khác 9 dự án với tổng vốn đầu tư 355,4 tỷ đồng.


Ngoài ra Vinatex đang triển khai 40 dự án chuyển tiếp từ năm 2003 với tổng mức đầu tư 902,4 tỷ đồng. Ông Thịnh cho biết, hầu hết các dự án chuyển tiếp và mới phê duyệt, đặc biệt là các dự án trọng điểm đang được các đơn vị triển khai một cách khẩn trương. Nhưng cũng có một số dự án chậm tiến độ do vướng mắc về giải phóng mặt bằng hoặc chờ các thủ tục liên quan đến quy hoạch sử dụng mặt bằng, chuyển quyền sử dụng đất. Một số dự án kéo sợi sử dụng vốn ODA của các công ty không được Quỹ hỗ trợ phát triển thông qua với lư do là các dự án khó khăn về tài chính.


Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác đầu tư, Vinatex cũng chú trọng đến đổi mới công tác quản lư. Theo ông Lê Quốc Ân, năm 2004 Vinatex đă hoàn thành cơ bản việc xây dưng điều lệ và quy chế tài chính chuyển hoạt động Tcty sang h́nh thức công ty mẹ-con của tập đoàn Vinatex. Xây dựng và được Chính phủ ra quyết định về thí điểm mô h́nh công ty mẹ-con của May Việt Tiến và Dệt may Hà Nội. Cũng trong năm 2004, Vinatex đă triển khai cổ phần hoá tại 17 công ty và 10 bộ phận công ty.


"Xây dựng Vinatex trở thành tập đoàn dệt may hàng đầu cả về quy mô lẫn năng lực cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á vào năm 2010", đó là định hướng đă được HĐQT Vinatex vạch ra. Theo đó, mục tiêu trước mắt trong năm 2005, Vinatex sẽ hoàn chỉnh hoạt động theo mô h́nh tập đoàn dệt may bao gồm: công ty mẹ, các công ty con và các công ty liên kết. Tập đoàn sẽ đạt mục tiêu phát triển ít nhất 17% và tỷ suất lợi nhuận tăng ít nhất 50%, trong đó công ty mẹ Vinatex đạt chỉ tiêu phát triển 20% và tỷ suất lợi nhuận tăng ít nhất 70% so với năm 2004. Dự kiến, năm 2005 Vinatex sẽ đầu tư với tổng mức hơn 2.236 tỷ đ, trong đó vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là 499,5 tỷ đ, vốn vay thương mại là hơn 1000 tỷ đ, vốn NSNN là 368,3 tỷ đ và các nguồn vốn khác là 444,3 tỷ đ.


Theo ông Lê Quốc Ân, để đạt được điều này, hiện Vinatex đang phải chuẩn bị một chiến lược hoạt động về thị trường, về đầu tư và chiến lược về tài chính đúng hướng.
 


Vũ Đức
Thời báo Kinh tế Việt Nam
 

7. Đ̣i quyền sở hữu ở nước người
 

Bà Phạm Thị Tỏ làm rạng danh kẹo dừa Bến Tre


Nh́n nét trầm lặng của bà Tỏ, khi tuổi về chiều, người ta biết rằng bà đang t́m sự thanh thản sau những năm dài vất vả. Nhưng không ai ngờ rằng trước đây, bà đă can đảm một ḿnh sang tận đất nước Trung Hoa đ̣i quyền sở hữu nhăn hiệu hàng hoá cho sản phẩm kẹo dừa Bến Tre.


Ở tuổi 38, hôn nhân đổ vỡ, bà vừa là cha vừa là mẹ tảo tần nuôi đàn con gồm 8 người. Để có đủ tiền cho các con đi học, bà làm bất ḱ việc ǵ có thể làm được, từ chằm lá lợp nhà để bán, xay gạo, hùn kết tinh đường gia công, bán tạp hoá.. Vậy mà vẫn không thoát khỏi cảnh khổ. Thấy vậy, người quen chỉ dẫn bà cách làm kẹo dừa. Nghề này vốn rất phù hợp với vùng đất Bến Tre bạt ngàn dừa, lại thêm tận dụng được nguồn lao động tại gia đ́nh vốn đông con này. Cầm trong tay 3 triệu đồng tiền vốn, trong đó 1 triệu đồng là tiền vay, bà tự nhủ với ḷng cố tâm theo nghề, để vừa tạo việc làm cho các con tránh lêu lổng vừa phát triển kinh tế gia đ́nh. Trong cơ sở này, “tôi vừa là chủ vừa là công nhân, c̣n các con sẽ được phân công những công việc phù hợp ngoài giờ đi học của chúng”, bà kể lại.


Một ḿnh đi đ̣i quyền sở hữu


Mới chập chững vào nghề, cơ sở sản xuất kẹo dừa Bến Tre của bà không tránh khỏi cảnh buôn bán thất thường khi đắt khi ế. Lợi nhuận không nhiều, chỉ tận dụng được xác dừa và nước đường để chăn nuôi. 10 năm chưa đăng kí thương hiệu kể từ năm thành lập những năm 70, bà nhận ra đó là một trong những nguyên nhân làm hàng “ế ẩm”. Nên khi có qui định về đăng kí bảo hộ nhăn hiệu hàng hoá, bà khẩn trương đăng kí ngay cho thương hiệu kẹo dừa Bến Tre.


Đến năm 1996, khi nước ta có những đổi thay về Luật sở hữu công nghiệp, bà mở rộng cơ sở sản xuất, đầu tư trang thiết bị, đăng kí bảo hộ nhăn hiệu hàng hoá và kiểu dáng sản phẩm. Đồng thời mở rộng thị trường sang các nước châu Á và châu Âu. Công ty TNHH sản xuất và kinh doanh Đông Á với sản phẩm kẹo dừa Bến Tre đựơc người tiêu dùng ngoài nước biết nhiều đến từ đấy. Có thị trường tiêu thụ rộng lớn, người nhà làm không xuể, bà thuê thêm 1.000 người dân trong phường và các xă huyện khác, chủ yếu là chị em phụ nữ. Hơn 30 phụ nữ nghèo được bà chỉ dẫn cách làm kẹo gia công cho cơ sở của bà.


Hoạt động cơ sở có giới hạn mà nhu cầu thị trường c̣n quá lớn, hàng sản xuất ra không đủ bán. Đây là cơ hội cho những viên kẹo dừa giả mạo của Bến Tre được bày bán khắp nơi, trong đó có Trung Quốc. Hàng xuất sang đất nước này chậm lại trông thấy, từ 300 tấn/ tháng c̣n 50 tấn/ tháng, nhiều công nhân bị thất nghiệp. V́ kẹo không ngon? Không đúng, v́ từ lúc vào nghề đến giờ, bà chỉ áp dụng một cách thức chế biến duy nhất, không hề thêm bớt 1 thành phần nào để thu lời cao hơn. V́ sao lượng hàng tụt xuống dù đă có thương hiệu? V́ có mặt hàng kẹo khác ngon hơn? Cũng rất có thể. Cứ băn khoăn măi với muôn lí do đưa ra và cuối cùng bà quyết ḷng sang tận Trung Quốc để t́m ra nguyên nhân. Đến đây mới vỡ lẽ là kẹo dừa giả mạo Bến Tre tràn lan. Bà buồn bă quay về nước.


Âm ỉ trong ḷng bức xúc, một năm sau, bà quay lại Trung Quốc với mục đích nghiên cứu luật Sở hữu trí tuệ và tiến hành nộp đơn xin đăng kí bảo hộ nhăn hiệu ở đất nước này. Trong cuộc đời bà không bao giờ quên được cái đêm đi đ̣i quyền sở hữu ấy. Một ḿnh không người thân đi cùng, đến sân bay Nội Bài đă chiều, nghĩ đến thị trường tiêu thụ, bà “bắt”xe thẳng đến cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) lúc 1h khuya, vừa đói lă người vừa phập phồng lo sợ nhiều rủi ro trong chuyến xe đêm. Rồi cũng thấy nhẹ người khi ánh b́nh minh bắt đầu ở một khách sạn Trung Hoa. Bà lân la nhờ người hỏi chuyện thủ tục đăng kí sở hữu nhăn hiệu hàng hoá. Lại một lần nữa, bà hụt hẫng khi biết một công ty nước bạn đăng kí nhăn hiệu kẹo dừa Bến Tre, chỉ c̣n 3 tháng nữa là được cấp giấy bảo hộ.


Dựng lại thương hiệu chân chính


Bà gọi điện về Sở KHCN tỉnh Bến Tre tŕnh bày sự việc. Họ trả lời ngắn gọn “Minh chứng rằng Bến Tre là địa danh của tỉnh chứ không phải tên tự đề ra”. Suốt đêm ấy, tại đất khách có người phụ nữ tảo tần không ngủ, đầu óc rối bời, tay chân lạnh buốt, nhưng vẫn cố giữ b́nh tĩnh và một quyết tâm cao “chấp nhận với nghề kẹo th́ không thể từ chối khó khăn”. bao nhiêu gian khổ của cuộc sống bà đă trải qua rèn cho bà đức tính bền bĩ, không chịu thua nghịch cảnh. “Phải thắng!”.


Quay về nước nhà, nhờ người thông dịch sang Trung Quốc, dịch các đơn từ, giấy chứng nhận từ phía nước nhà sang tiếng Hoa và gửi cho Đại sứ quán Việt Nam tại đây, nhờ họ nộp giúp cho Cục quản lí hành chính công thương nhăn hiệu hàng hoá quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Trong đơn tŕnh bày rơ: Công ty nước bạn đă vi phạm nguyên tắc hoạt động kinh tế, không trung thực, làm ảnh hưởng đến lợi ích người tiêu dùng. Đề nghị chính quyền Trung Quốc từ chối đăng kí nhăn hiệu của công ty nước này dựa vào phân loại 30 chủng loại kẹo trên thế giới. Thứ 2 là chấp nhận cho Công ty Đông Á đăng kí nhăn hiệu hàng hoá có h́nh người đàn bà đeo kính. T́nh lí rơ ràng nên bà thắng vụ kiện này.


Kẹo dừa Bến Tre của bà Tỏ ra đời gần 30 năm. Khi chưa đăng kí NHHH, hàng chỉ tiêu thụ trong nước, khoảng 200-300 tấn/ tháng. C̣n bây giờ, sản phẩm kẹo dừa Đông Á chủ yếu bán qua thị trường các nứơc Campuchia, Lào, Thuỵ Điển, Australia và Trung Quốc. Nhất là sau vụ kiện ở Trung Quốc, nhu cầu thị trường tăng lên, cơ sở không đáp ứng kịp, Công ty quyết định đầu tư 3.800 triệu đồng mở rộng cơ sở sản xuất, nhà kho, trang thiết bị để tăng số lượng và chất lượng kẹo xuất khẩu. Thời gian trôi qua, từ 1 cơ sở èo uột bây giờ Công ty Đông Á có thêm 6 cơ sở sản xuất phụ của các con. Nhiều năm liền, Công ty được Bộ thương mại khen thưởng kim ngạch xuất khẩu.
 


Kim Oanh
Thời báo Kinh tế Việt Nam
 

8. Bảo vệ thương hiệu bằng chất lượng

 

Cách chống lại nạn vi phạm SHTT của V&T


Ra đời từ năm 1996, V&T được biết đến là thương hiệu giấy thơm cao cấp đầu tiên ở thị trường Việt Nam. Nhưng sau 8 năm có mặt trên thị trường, V&T vấp phải t́nh trạng vi phạm SHTT và kiểu dáng công nghiệp nảy sinh khá nhanh ở thị trường này.
Ngay từ đầu, V&T đă đầu tư cho ḿnh một dây chuyền công nghệ hiện đại từ Indonesia và đảm bảo chất lượng bằng nguồn nguyên liệu nhập khẩu 100% từ các nguồn uy tín trên thế giới. Điểm xuất phát này hứa hẹn thành công lớn nếu như V&T không vấp phải phản ứng nhanh nhạy của hàng nhái.


Đi đầu để... u đầu


Sau hai năm thiết lập thị phần ở Hà Nội, Tp.HCM, Hải Pḥng, Đà Nẵng..., bên cạnh trách nhiệm bảo đảm chất lượng, củng cố uy tín, V&T lại phải chật vật đối phó với t́nh trạng bị nhái ở hầu hết các ḍng sản phẩm. Một sản phẩm mới được tung ra, ngay lập tức thị trường có ngay những sản phẩm tương tự. Để hạn chế t́nh trạng này, các sản phẩm mang thương hiệu V&T đều được đăng kư bảo hộ SHTT và kiểu dáng công nghiệp. Nhưng để t́m được lẽ phải về ḿnh, V&T cũng đă phải mất hàng năm trời cùng với đại diện pháp lư là Văn pḥng luật sư Phạm và Liên danh (P&A) khiếu nại lên Cục SHTT. Và mới đây nhất, cơ quan này đă có kết luận chính thức về hai ḍng sản phẩm chính của Công ty giấy thơm cao cấp Ngọc Bích, với nhăn hiệu T&J, V&G cùng logo tương ứng. Kết luận của Cục SHTT khẳng định: Việc Công ty giấy thơm cao cấp Ngọc Bích sử dụng nhăn hiệu nói trên là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của chủ nhăn hiệu hàng hoá được quy định tại Điều 805 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, theo ông Đặng Khánh Hà, đại diện sở hữu thương hiệu V&T, cho rằng đó chỉ là 2 trường hợp điển h́nh trong hàng loạt sản phẩm của V&T bị vi phạm. Nhưng chỉ là 2 trường hợp đó cũng đủ gây cho V&T nhiều khó khăn. Một lượng khá lớn người tiêu dùng đă nhầm lẫn khi tiếp cận các loại sản phẩm nhái nói trên, từ đó có những đánh giá thấp về chất lượng và uy tín của những sản phẩm V&T thật.


Ông Hà cho rằng thiệt hại từ nạn hàng nhái rất khó đong đếm. Nó có thể hữu h́nh trong sự sụt giảm của doanh số bán ra, nhưng lại không thể xác định được thiệt hại về uy tín và giá trị thương hiệu. Trong khi đó, để xây dựng và khẳng định được một thương hiệu doanh nghiệp phải mất rất nhiều thời gian và tiền của đầu tư.


Tự bảo vệ ḿnh bằng chất lượng


Trước khi có kết luận chính thức từ Cục SHTT, V&T cùng đại diện pháp lư của ḿnh đă nhiều lần lên tiếng cảnh báo các trường hợp vi phạm, và hiện nay, khi đă có sự bảo hộ hợp pháp về quyền SHTT, các sản phẩm của “V&T” vẫn không ngừng bị làm nhái, thậm chí ở mức độ và tính chất nghiêm trọng hơn.


Ông Hà cho rằng nguyên nhân chính là do các quy định pháp luật về SHTT và kiểu dáng công nghiệp đă được xây dựng tương đối đầy đủ nhưng chế tài xử phạt các vi phạm c̣n rất yếu. Dù rằng cây ngay không sợ chết đứng nhưng V&T vẫn phải nỗ lực để tự bảo vệ ḿnh. Và theo ông Hà, đó là không ngừng nâng cao chất lượng và đầu tư cho các sản phẩm mới. Chất lượng của V&T vốn đă được khẳng định, nhiều năm liền được b́nh chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao, đă đạt giải thưởng Sao vàng đất Việt và được đánh giá là thương hiệu có tính cạnh tranh quốc tế cao. Tuy nhiên, cái khó là phải kiên tŕ tiếp cận người tiêu dùng, xây dựng được kênh thông tin chính xác và tin cậy nhất tới họ. Ở đây cần có sự hỗ trợ của các ban ngành liên quan và đặc biệt là sự tham gia của báo chí - truyền thông. Ngoài ra, các chế tài xử lư vi phạm quyền SHTT cũng cần phải được hoàn thiện và thực sự đi vào đời sống, qua đó để bảo đảm quyền lợi của các nhà sản xuất hợp pháp cũng như để bảo đảm hơn quyền lợi của người tiêu dùng.


Ông Hà cho biết, song song với ḍng sản phẩm cao cấp, V&T đă cho ra đời một ḍng sản phẩm thứ cấp khác với nhăn hiệu Coco. Đặc biệt, trong thời gian tới, V&T sẽ tiếp tục đầu tư mạnh để cho ra đời loạt sản phẩm mới có chất lượng và đẳng cấp vượt trội. Đây là một bước quan trọng trong mục tiêu trở thành 1 trong 5 nhà sản xuất hàng đầu của Việt Nam ở lĩnh vực sản xuất khăn giấy thơm cao cấp.

 

Minh Đức
Thời báo Kinh tế Việt Nam
 

Advertisement

Công ty tư vấn luật LEADCO

 

  

Footer

Cá nhân và tổ chức sử dụng thông tin của SMEnet phải ghi rơ địa chỉ http://www.SMEnet.com.vn

Góp ư xin gửi thư về webmaster@smenet.com.vn

Web site này do Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) hợp tác phát triển