Home-Left Menu
Home-HorizontalMenu

BẢN TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 04
(Tuần từ 25-31/07/2005)

(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật LEADCO)

Địa chỉ: 85 Trần Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email: leadco@hn.vnn.vn

 

Để luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy bấm vào đây. Để được tư vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy bấm vào đây.


Với mục đích cung cấp thêm thông tin cho các đọc giả quan tâm, chúng tôi xin được giới thiệu thêm một số vấn đề về Bản quyền tác giả (Copyright) và Nhăn hiệu hàng hóa (Trademark). Bản tin này chúng tôi lược dịch từ bài viết của tác giả Lloyd J. Jassin – luật sư họat động trong lĩnh vực xuất bản và công nghiệp giải trí ở New York – Hoa Kỳ. Tác giả bài viết này đúc kết kinh nghiệm từ những vụ việc thực tế ở Hoa Kỳ cũng như phân tích cơ sở pháp lư từ hệ thống pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ.

1. Mục đích ra đời của pháp luật về bảo hộ Nhăn hiệu hàng hóa ?

Như chúng tôi đă đề cập trong các bản tin trước đây nhăn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng trong thương mại để phân biệt hàng hóa và dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ khác nhau. V́ vậy, một mặt để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng giúp họ lựa chọn mua được hàng hóa hoặc dịch vụ có chất lượng, có tín nhiệm, tránh bị nhầm lẫn khi mua hàng hóa hoặc dịch vụ; mặt khác bảo vệ một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm thành quả cho các nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ đă đầu tư và tạo dựng sản phẩm hoặc dịch vụ mang nhăn hiệu đó một công cụ pháp lư về bảo hộ nhăn hiệu hàng hóa cần thiết phải được ra đời. Đó chính là pháp luật về bảo hộ nhăn hiệu hàng hóa. Pháp luật nhăn hiệu ra đời là để cách ngăn chặn người khác sao chép, nhái các dấu hiệu mang tính chất chỉ dẫn nguồn gốc thương mại, giúp người tiêu dùng giảm chi phí mua sắm, hoặc quyết định mua sắm một cách nhanh chóng và để đảm bảo rằng hàng hóa hoặc dịch vụ mang những nhăn hiệu này được tạo ra bởi chính nhà sản xuất mà người mua đă từng mua. Bên cạnh đó, pháp luật cũng giúp nhà sản xuất hoặc người cung cấp dịch vụ được hưởng lợi từ việc bán những sản phẩm hoặc dịch vụ đó.

2. Nhăn hiệu được bảo hộ cái ǵ?

Nhăn hiệu hàng hóa bảo hộ người tiêu dùng không bị nhầm lẫn khi lựa chọn mua hàng hóa hoặc dịch vụ. Nó cũng đảm bảo sự cạnh tranh tự do giữa các đối thủ cạnh tranh bằng việc bảo vệ uy tín của người đă tạo ra hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhăn hiệu đó. Không giống như bản quyền tác giả (Copyright) chỉ bảo vệ chính sự thể hiện ư tưởng, nhăn hiệu liên quan đến hàng hóa/dịch vụ trên thương trường. Nhăn hiệu đại diện cho uy tín thương mại của một nhà sản xuất hoặc một nhà cung cấp dịch vụ. Nhăn hiệu chính là dấu hiệu, sự ám chỉ, hoặc một manh mối đầy sức mạnh xác định nguồn gốc của hàng hóa/dịch vụ và cho phép chúng ta đánh giá về chất lượng của hàng hóa/dịch vụ đó.

3. Quyền đối với nhăn hiệu có được như thế nào?

Hầu hết các nước đều có luật bảo hộ nhăn hiệu hàng hóa và đều quy định nhăn hiệu phải được đăng kư mới được bảo hộ. Người nào nộp đơn trước sẽ được bảo hộ. Đó chính là nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên” (first-to-file). Luật Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc này.Tuy vậy, ở một số rất ít nước, nhăn hiệu vẫn được bảo hộ ngay cả khi nó chưa được đăng kư, như ở Mỹ chẳng hạn. Luật Mỹ áp dụng nguyên tắc quyền sử dụng trước (“first-to-use”). Một lời khuyên cho các bạn là bạn nên nộp đơn đăng kư bảo hộ nhăn hiệu của bạn càng sớm càng tốt. Đối với những nước, như Mỹ, nếu có thể vẫn nên lựa chọn việc nộp đơn yêu cầu bảo hộ hay hơn là chờ đợi sự bảo hộ nhờ sử dụng nhăn hiệu bởi v́ chi phí chứng minh cho sử dụng nhăn hiệu lần đầu tiên ở Mỹ rất tốn kém và lăng phí nhiều thời gian.

4. Bản quyền tác giả khác với Nhăn hiệu hàng hóa?

Bản quyền tác giả và Nhăn hiệu hàng hóa là 2 đối tượng được bảo hộ khác nhau thuộc lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trên thực tế, người ta hay bị nhầm lẫn chúng. Pháp luật về bản quyền tác giả bảo hộ cách mà tác giả hoặc các nghệ sĩ tŕnh bày ư tưởng của họ chứ không phải là bản thân ư tưởng đó. Không giống như bản quyền tác giả, pháp luật nhăn hiệu bảo hộ tên, biểu tượng, cụm chữ,…vv mà có khả năng phân biệt nguồn gốc thương mại của một sản phẩm này so với sản phẩm cùng loại được tạo ra bởi người khác. Nhăn hiệu hàng hóa đóng vai tṛ rất quan trọng trong thương mại, đặc biệt là marketing bởi v́ nó xác lập nên một mối quan hệ giữa người mua và người bán. Cũng cần phải lưu ư rằng chỉ có những tên, biểu tượng, hoặc cụm từ mà có khả năng phân biệt sản phẩm và/hoặc dịch vụ trên thương trường mới có thể được coi là nhăn hiệu hàng hóa và được bảo hộ theo pháp luật nhăn hiệu hàng hóa. Không giống như bản quyền tác giả (tồn tại từ thời điểm một tác phẩm như một bản nhạc, bức tranh, cuốn tiểu thuyết,…vv), nh́n chung nhăn hiệu hàng hóa phát triển thông qua quá tŕnh được công nhận bởi người tiêu dùng. Trong khi đó, bản quyền tác phát triển trước đó lâu hơn nhưng quyền gắn liền với nó lại chấm dứt sớm hơn (thường là 50 năm sau khi tác giả chết) và trở thành tác phẩm của công chúng. Quyền đối với nhăn hiệu có thể tiếp tục vô hạn định nếu nó vẫn tiếp tục được sử dụng và nó chưa bị coi là mất tính phân biệt do đă trở thành một tên gọi chung. Một số tên không được bảo hộ nữa v́ đă trở thành tên gọi chung ví dụ như ASPIRIN (dược phẩm), INOX (thép không gỉ),…vv
Bản quyền tác giả và Nhăn hiệu hàng hóa c̣n khác nhau ở sự đánh giá về xâm phạm quyền tương ứng được pháp luật bảo hộ, được nêu dưới đây.

5. Đánh giá vi phạm nhăn hiệu

Vi phạm bản quyền đ̣i hỏi có “tương tự cơ bản” của tác phẩm được bảo hộ, trong khi đó đánh giá vi phạm nhăn hiệu thông thường là đánh giá tính “tương tự gây nhầm lẫn”. Đánh giá vi phạm nhăn hiệu giải quyết câu hỏi liệu người mua thông thường – tức là không phải t́m kiếm những nét khác biệt khó thấy và những chi tiết khó nhận ra – có tin rằng hàng hóa hoặc dịch vụ đó có cùng một nguồn gốc thương mại hay không. Then chốt của một vụ vi phạm nhăn hiệu nằm ở chỗ có khả năng tồn tại sự “tương tự gây nhầm lẫn”, hoặc hai nhăn hiệu có tương tự tới mức làm cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn về nguồn gốc hoặc xuất xứ hay không. Các ṭa án thường sẽ xem xét các yếu tố sau khi đánh giá tương tự gây nhầm lẫn:
1) Sự tương tự của nhăn hiệu nghi ngờ vi phạm với nhăn hiệu được bảo hộ;
2) Tính liên quan hoặc mối liên hệ giữa 2 công ty sử dụng 2 nhăn hiệu;
3) Sức mạnh của nhăn hiệu;
4) Kênh tiêu thụ;
5) Mức độ quan tâm sử dụng của người mua khi lựa chọn hàng hóa/dịch vụ;
6) Ư định “đến sau” khi chọn nhăn hiệu;
7) Bằng chứng nhầm lẫn thực tế;
8) Tính tương tự mở rộng sang ḍng sản phẩm khác.

Chú ư: Việc đánh giá vi phạm nhăn hiệu có phần dễ chủ quan. Một số yếu tố này có thể được xem xét nặng hơn là các yếu tố khác và tính quan trọng tương đối của bản thân mỗi yếu tố có thể thay đổi theo từng vụ việc khác nhau. Hơn nữa, các yếu tố trên không phải là các yếu tố duy nhất mà ṭa án xem xét.

6. Tác giả, Nghệ sỹ và người sáng tạo khác cần phải biết ǵ về Nhăn hiệu?

Luật nhăn hiệu có ảnh hưởng như thế nào đến tác giả, nghệ sỹ và người sáng tạo khác? Thật may mắn, lần sửa đổi đầu tiên đă quy định khá rơ về phạm vi bảo hộ cho tác giả và những người cùng sáng tạo với họ, với điều kiện việc sử dụng trái phép nhăn hiệu không làm cho công chúng liên tưởng rằng việc sử dụng đó được thực hiện bởi chính chủ nhăn hiệu. Dưới đây là một số ví dụ minh họa sự giao thoa giữa luật nhăn hiệu và thế giới sáng tạo nghệ thuật

a. H́nh ảnh thương mại (Trade Dress). H́nh ảnh có khả năng phân biệt của một sản phẩm trong luật nhăn hiệu được gọi là “h́nh ảnh thương mại (“trade dress”). Nó liên quan đến h́nh dáng, màu sắc, kiểu thiết kế đồ họa, kỹ thuật bán hàng hoặc bất kỳ sự kết hợp nào giữa những yếu tố mà người tiêu dùng có thể liên tưởng về một nguồn gốc nhất định. Thiết kế kiểu dáng quen thuộc của tạp chí hội địa lư quốc gia (National Geogrphical Magazine) hoặc diện mạo bên ngoài của hàng loạt các cuốn “Hướng dẫn du lịch của Frommer”, đều là những ví dụ về tính phân biệt của h́nh ảnh thương mại. H́nh ảnh thương mại có thể được bảo hộ theo các tiêu chuẩn bảo hộ giống như nhăn hiệu hàng hóa.
b. Đầu đề (Title). Đầu đề hay c̣n gọi là nhan đề của các cuốn sách tuy không được bảo hộ theo luật bản quyền tác giả nhưng đôi khi chúng được bảo hộ theo luật nhăn hiệu và luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Để được bảo hộ, nhan đề đó phải đạt được “ư nghĩa thứ 2” (secondary meaning). Ư nghĩa thứ 2 giống như sức hấp dẫn, lôi cuốn về mặt thương mại của bản thân nhan đề đó. Về nguyên tắc, để được bảo hộ, nhan đề đó phải được biết đến rộng răi (broadly known). Hàng loạt những nhan đề, không phải là nhan đề chỉ xuất hiện một lần, có thể sử dụng làm những nhăn hiệu tốt.
c. Nhân vật văn học. Trong một chừng mực mà các nhân vật văn học có thể làm cho người ta liên tưởng đến một nhà sản xuất hoặc một nguồn gốc nhất định th́ nó có thể được bảo hộ theo luật nhăn hiệu và luật chống cạnh tranh không lành mạnh – ngay cả khi các nhân vật này không được bảo hộ theo luật bản quyền nữa. Ví dụ nhân vật “Popeye” đă xuất hiện từ năm 1929 trong tập truyện tranh vui phát hành hàng tuần có nhan đề “the Thimble Theatre” sẽ trở thành một thứ của công cộng vào ngày 1.1.2024. Thực chất, nhân vật nguyên bản “Popeye” sẽ là tài sản chung của cộng đồng, không cho phép hăng King Feature được đ̣i quyền nhăn hiệu đối với nhân vật này, hoặc bảo hộ đối với chuyện tranh vui hoặc những thay đổi so với nhân vật gốc. Tuy nhiên, người ta có thể tranh luận liệu hăng này có thể buộc bạn phải ngừng việc sao chép những chuyện tranh thuộc về công chúng đó nếu bạn được cảnh báo rằng bạn đă không làm thế với sự cho phép của King Feature, và đó là một sự sao chép trung thực.
d. Tên miền (domain names). Tên miền, là những địa chỉ máy tính duy nhất định danh cho mỗi máy tính trên Internet, được sử dụng rộng răi bởi các công ty phát hành, giải trí và quảng cáo. Việc sử dụng trái phép một nhăn hiệu nổi tiếng (famous) làm tên miền, ngay cả khi gắn liền với sản phẩm hoặc dịch vụ không liên quan, th́ cũng có thể cấu thành hành vi xâm phạm quyền nhăn hiệu đối với người khác. Một ṭa án liên bang đă ra lệnh chấm dứt sử dụng tên miền “candyland.com” sử dụng chào bán ấn phẩm khiêu dâm bởi v́ nó làm dơ bẩn nhăn hiệu đă đăng kư “Candy Land” của Hasbro cho các tṛ chơi của trẻ em. Tên miền, với điều kiện là được sử dụng trong thương mại để xác định sản phẩm hoặc dịch vụ, có thể đăng kư với Cơ quan Sáng chế và Nhăn hiệu Hoa Kỳ (USPTO). Ngoài ra, các quy định hiện nay tạo cơ sở dễ dàng hơn trong cuộc chiến với người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp (cybersquatters), cụ thể là đăng kư tên miền với mục đích xấu nhằm đầu cơ để bán lại tên miền cho chủ đích thực của nó.
e. Sử dụng sai tên tác giả. Theo quy định của luật cạnh tranh không lành mạnh của các bang và liên bang, tác giả có thể kiện v́ hành động quảng cáo sai lệch hoặc chỉ dẫn sai về nguồn gốc xuất xứ, nếu bài viết của người này về tác phẩm bị coi là miêu tả không chính xác. Tương tự như vậy, quyền tác giả cũng có thể bị vi phạm nếu một người, không có sự cho phép của tác giả, thay đổi tác phẩm được bảo hộ của tác giả.

7. Các nhăn hiệu được tạo ra không giống nhau

Luật nhăn hiệu xếp loại nhăn hiệu theo phạm vi từ 1 đến 4 với 4 mức độ khác nhau. Mức cao có nghĩa là nhăn hiệu có sự hấp dẫn hơn trong thương mại, hoặc có tính phân biệt cao hơn và nó được hưởng phạm vi bảo hộ rộng hơn so với lmức độ thứ 2, thứ 3 và thứ 4. Một nhăn hiệu có tính phân biệt giúp người ta nhận ra nguồn gốc duy nhất của hàng hóa hoặc dịch vụ. Bằng cách phủ nhận việc bảo hộ cho các dấu hiệu hoàn toàn mô tả, lụât nhăn hiệu đảm bảo cho các đối thủ cạnh tranh khác nhau có quyền sử dụng các thuật ngữ đó để mô tả cho hàng hóa hoặc dịch vụ của ḿnh.

Sắp xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới phản ánh khả năng được bảo hộ của nhăn hiệu và phạm vi bảo hộ được hưởng, có 4 loại nhăn hiệu:

1. Tên thông thường; (nhăn hiệu đă trở thành tên thông thường)
2. Mô tả hàng hóa/dịch vụ;
3. Gợi ư; và
4. Tự đặt, hoặc do tưởng tượng

Tên thông thường, hoặc các mô tả thông thường không được bảo hộ với tư cách là nhăn hiệu mà chúng được sử dụng tự do không vi phạm quyền của ai cả. Cấp quyền độc quyền cho các tên thông thường có thể tạo nên sự độc quyền vô lư hoặc tạo nên một rào cản trong trao đổi thông tin.

Dấu hiệu mô tả mà chuyển tải thông tin về bản chất của hàng hóa, dịch vụ chỉ được bảo hộ với tư cách là nhăn hiệu nếu chủ dấu hiệu đó có thể chứng minh được dấu hiệu đó giành được “ư nghĩa thứ 2” (secondary meaning) do công chúng tiêu dùng có thể liên tưởng nhăn hiệu gắn trên sản phẩm hoặc dịch vụ là của một chủ sở hữu nào đó. Theo nguyên tắc chung, nhan đề sách hoặc các ấn phẩm giải trí phải giành được “ư nghĩa thứ 2” th́ chúng mới có thể được bảo hộ.

Thuật ngữ gợi ư (ví dụ: xà bông Ngà Voi) mà ngụ ư một thứ ǵ đó không mô tả bất kỳ một cái ǵ cụ thể, th́ có thể được bảo hộ làm nhăn hiệu ngay cả khi nó không có “ư nghĩa thứ 2”

Mức độ cao nhất về tính phân biệt của 4 loại nhăn hiệu trên là các từ tự đặt, hoặc được tạo ra do tưởng tượng, mà không có mối liên hệ nào tồn tại trước đó với sản phẩm nó sử dụng (ví dụ: CAPMY, 7-UP, XEROX, KODAK). V́ vậy đối với những nhăn hiệu này chủ nhăn hiệu nhận được sử bảo hộ rộng hơn. Ví dụ, Nhăn hiệu McDonald, không có liên quan ǵ đến nhà hàng cung cấp đồ ăn nhanh (khác với nhăn hiệu được tạo ra bằng các công cụ tiếp thị nổi bật), nên nhận được sự bảo hộ cực kỳ rộng. Thực vậy, chúng có thể ngăn chặn được tất cả các nhăn hiệu “McFreeloaders” – nhiều trong số đó thậm chí không kinh doanh dịch vụ nhà hàng như McDonald. Thêm nữa, nhăn hiệu tự tạo được cho là nhăn hiệu có cơ sở pháp lư vững chắc.

8. Làm “bẩn” nhăn hiệu của người khác

Làm “bẩn” nhăn hiệu của người khác đề cập đến việc cắt bỏ hoặc vứt bỏ tính phân biệt của nhăn hiệu nổi tiếng thông qua việc sử dụng trái phép. Theo Luật chống làm “bẩn” nhăn hiệu của liên bang, chủ sở hữu nhăn hiệu nổi tiếng có quyền ngăn chặn người khác sử dụng trong thương mại nhăn hiệu của ḿnh mà làm “bẩn”, “hư hại”,…vv đến chất lượng có tính phân biệt. Không giống như các trường hợp vi phạm nhăn hiệu thông thường, không có sự tương tự gây nhầm lẫn, không có sự cạnh tranh giữa hàng hóa mang nhăn hiệu của các bên liên quan.

Lưu ư: Việc làm “bẩn” nhăn hiệu chỉ áp dụng đối với các nhăn hiệu mạnh. Hiện tượng này có thể xảy ra khi một nhăn hiệu nổi tiếng bị nhái trong một chương tŕnh quảng cáo ngay cả khi nó không tương tự gây nhầm lẫn với nhăn hiệu nổi tiếng.

 

Advertisement

Công ty tư vấn luật LEADCO

 

  

Footer

Cá nhân và tổ chức sử dụng thông tin của SMEnet phải ghi rơ địa chỉ http://www.SMEnet.com.vn

Góp ư xin gửi thư về webmaster@smenet.com.vn

Web site này do Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) hợp tác phát triển