|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 03
(Tuần từ
11-17/07/2005)
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư
nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
1. Thương hiệu hay Nhăn hiệu hàng hoá ?
Hiện nay trên báo chí và các phương tiện truyền thông thường sử dụng
thuật ngữ “thương hiệu” và “nhăn hiệu” (hay c̣n gọi là nhăn hiệu
hàng hoá) khi cùng đề cập các vấn đề liên quan đến lĩnh vực sở hữu
trí tuệ. V́ thế, đôi khi có thể làm cho người đọc bị lẫn lộn hoặc
không phân biệt được lư do tại sao các thuật ngữ đó lại được sử dụng
thay thế nhau như vậy, hay phải chăng chúng hoàn toàn giống nhau?.
Với mục đích cung cấp các thông tin, khái niệm cơ bản và chỉ ra sự
khác nhau giữa 2 thuật ngữ này giúp bạn đọc dễ dàng tiếp cận với các
bài báo viết về vấn đề liên quan ngay dưới bài giới thiệu này, chúng
tôi xin được làm rơ một vài điểm đáng lưu ư.
Trước hết, chúng ta nhận thấy trong các văn bản pháp luật của Việt
nam đều không có quy định nào đề cập đến thuật ngữ “thương hiệu”.
Trái lại, thuật ngữ “nhăn hiệu hàng hoá” được ghi nhận chính thức
trong các văn bản quy phạm pháp luật. Điều 785 Bộ luật dân sự 1995
quy định “Nhăn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt
hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác
nhau. Nhăn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, h́nh ảnh hoặc sự kết hợp
các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.
Như
vậy, theo quy định này, chúng ta nhận thấy nhăn hiệu hàng hoá chính
là các dấu hiệu dưới dạng chữ, logo, biểu tượng được tŕnh bày bằng
một hoặc nhiều màu sắc. Ví dụ: HONDA (xe máy), biểu tượng ngôi sao 3
cánh của Mercedes dùng cho ô tô, h́nh cái chai nước giải khát của
Coca-Cola…đều được gọi là Nhăn hiệu hàng hoá. Cũng phải lưu ư rằng
thuật ngữ Nhăn hiệu hàng hoá c̣n bao gồm cả nhăn hiệu dịch vụ ví dụ
nhăn hiệu Mc
Donald d ùng cho các dịch vụ nhà hàng ăn nhanh.
Trong marketing,
thuật ngữ “Thương hiệu” rất quen thuộc. Người ta hay nhắc đến những
thuật ngữ liên quan như “xây dựng thương hiệu”, “quản trị thương
hiệu”, “nhận diện thương hiệu”, “định vị thương hiệu”,…vv. Trong
tiếng Anh, có sự khác nhau giữa 2 thuật ngữ “Trademark” và “Brand”
(hay c̣n gọi là “Brand name”). Trademark (Nhăn hiệu hàng hoá), là
một thuật ngữ chỉ một loại đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
được bảo hộ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, có nghĩa là tất cả
những dấu hiệu dưới dạng h́nh, chữ miễn là có khả năng phân biệt
hàng hoá, dịch vụ của các cơ sở khác nhau. Như vậy, khái niệm
Trademark có ư nghĩa tương đương như khái niệm Nhăn hiệu hàng hoá
quy định tại điều 785 Bộ luật dân sự đă nêu trên. “Brand” (Thương
hiệu) là sự biểu hiện tổng hợp tất cả các thông tin liên quan đến
một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Một Thương hiệu (Brand) được
biểu hiện đặc thù thông qua một cái tên (cà phê Trung Nguyên), một
mẫu logo (h́nh cánh chim của Honda), hay các yếu tố khác có thể nh́n
thấy bằng mắt thường. Nhưng đặc thù hơn cả ở chỗ nó có thể biểu đạt
tất cả niềm mong đợi trong trí nhớ người tiêu dùng gắn liền với một
loại sản phẩm hoặc dịch vụ chẳng hạn sự trung thành, sự thích thú
của người tiêu dùng đối với một nhăn hiệu nào đó; hoặc niềm tin của
người này đối với chất lượng của sản phẩm mang nhăn hiệu,…vv. Như
vậy, khái niệm Thương hiệu (Brand) rộng hơn khái niệm Nhăn hiệu hàng
hoá (Trademark). Nói cách khác, khái niệm Thương hiệu (Brand) bao
trùm khái niệm Nhăn hiệu hàng hoá (Trademark), có nghĩa Thương hiệu
cũng được coi là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, và nó
cũng cần thiết phải được bảo hộ. Tuy nhiên, do yếu tố lịch sử, trong
ngữ cảnh pháp lư, người ta thường sử dụng thuật ngữ Nhăn hiệu hàng
hoá (Trademark) hơn là sử dụng thuật ngữ Thương hiệu (Brand).
Hiện
nay, chúng ta cũng hay nghe nói đến những cụm từ như “xây dựng
thương hiệu Việt Nam”, “thương hiệu nông sản Việt Nam”, cũng như
những vấn đề mới mẻ như “định giá Thương hiệu”,…vv. Chúng tôi xin
nêu thêm một số cách diễn giải các khái niệm xung quanh thuật ngữ
thương hiệu đang được thừa nhận ở nhiều nước.
Trước
hết, về mặt lịch sử, sự ra đời của thuật ngữ thương hiệu gắn liền
với phương pháp tiếp thị mới h́nh thành từ thế kỷ 19 cùng với sự
phát minh ra công nghệ bao b́ sản phẩm. Quá tŕnh công nghiệp hoá đă
đẩy việc sản xuất các mặt hàng phục vụ gia đ́nh như xà pḥng chẳng
hạn, từ các cộng đồng dân cư nhỏ sang tập trung tại các nhà máy.
Những nhà máy này, nơi tạo ra những hàng hoá được sản xuất hàng loạt,
có nhu cầu bán những sản phẩm đó ở một thị trường lớn hơn, cụ thể là
cho những hộ gia đ́nh lâu nay đă quen với việc tiêu dùng sản phẩm
của cộng đồng ḿnh sản xuất. Điều này nhanh chóng cho thấy những bao
b́ sản phẩm cũ rích khó ḷng mà cạnh tranh được với các sản phẩm do
cộng đồng địa phương sản xuất. Các nhà sản xuất đă nhận thức được
rằng công chúng có thể đặt niềm tin vào sản phẩm không phải do địa
phương sản xuất. Các nhà sản xuất mong muốn những sản phẩm của ḿnh
có mặt và được đối xử như sản phẩm của địa phương. Kể từ đó, với sự
hỗ trợ của quảng cáo, các nhà sản xuất đă nhanh chóng học được cách
liên kết các giá trị khác như sự trẻ trung, vui nhộn hay cao cấp với
Thương hiệu sản phẩm của ḿnh. Sự khởi đầu như vậy hiện nay chúng ta
gọi là xây dựng thương hiệu (Branding).
Một số ư
kiến cho rằng nhận thức về thương hiệu có 2 dạng. Một là nhận thức
thương hiệu do ảnh hưởng của yếu tố tâm lư, và hai là nhận thức
thương hiệu do ảnh hưởng của yếu tố kinh nghiệm. Yếu tố kinh nghiệm
bao gồm tổng cộng các điểm tiếp xúc với Thương hiệu và được gọi là
kinh nghiệm thương hiệu (brand experience).
Yếu tố tâm lư đôi khi gọi là h́nh ảnh thương hiệu
(brand image) là một biểu tượng xây dựng trong đầu người tiêu dùng,
bao mọi thông tin và sự mong đợi của họ gắn liền với một loại sản
phẩm hoặc dịch vụ.
2. Sức mạnh của thương hiệu (Tác giả: TS Dương Ngọc Dũng)
Vấn đề thương hiệu thật ra là trung tâm của chiến
lược marketing. Ngày nay do sự tham gia của nhiều học giả vào lĩnh
vực này, marketing đă khoác vào bản thân của nó quá nhiều thuật ngữ
chuyên môn khó hiểu, chẳng hạn “khúc thị trường” (market segment),
“phân khúc thị trường” (segmentation), “kẻ khống chế thị trường”
(market leader), “thị trường tí hon” (niche) … Cả vấn đề thương hiệu
cũng thế, nào là “siêu thương hiệu” (megabrand), “thương hiệu phụ”
(sub-brand), “đồng thương hiệu” (co-brand), “thương hiệu bảo trợ”
(shadow endoser), “thương hiệu viên đạn bạc” (silver-bullet brand),
“thương hiệu động lực” (driver brand), “kiến trúc thương hiệu”
(brand architecture), “phổ thương hiệu” (brand spectrum), “quản trị
danh mục thương hiệu” (brand portfolio management) … Tất cả những
thuật ngữ này xuất hiện trong các tác phẩm viết về chiến lược kinh
doanh từ Philip Kotler, Peter Drucker cho đến Jack Trout, Al Ries,
Laura Ries, David A. Aaker, Duane E. Knap, Lynn B. Upshaw, cũng như
các bản dịch “khập khiễng”, chủ yếu dịch các tác phẩm viết về thương
hiệu của David A. Aaker, đang tràn ngập bát nháo trên thị trường
sách vở hiện nay. Ngày nay kinh doanh đă trở thành đối tượng cho mọt
ngành nghiên cứu hàn lâm thật sự trong các trung tâm đào tạo quản
trị kinh doanh trực thuộc các trường đại học lớn, cho nên việc phát
triển một hệ thống thuật ngữ chuyên biệt là một điều tất yếu.
Thuật ngữ gây rắc rối đầu tiên là “giá trị thương
hiệu” (brand equity). Có người c̣n dịch thành “tài sản nhăn hiệu”.
Theo giáo sư David A. Aaker, giá trị thương hiệu gồm có bốn yếu tố
cấu thành: sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu (brand
loyalty), việc khách hàng nhận ra thương hiệu một cách mau chóng
(brand awareness), chất lượng sản phẩm hay dịch vụ cung cấp trong
nhận thức của khách hàng (percived quality), những liên tưởng của
khách hàng khi nghe hoặc nh́n thấy thương hiệu (brand associatión).
Giá trị thương hiệu như vậy không phải giá trị tiền mặt (thư giá =
book value) của thương hiệu. Chẳng hạn giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm
(Viện đào tạo quản trị kinh doanh UBI, Bruxelles) chỉ ra rằng Tập
đoàn thuốc lá Philip Moris năm 1988 đă mua lại công ty Kraft với giá
12,6 tỷ USD, gấp sáu lần giá trị các tài sản có thực của công ty này.
Những thương hiệu bá chủ như Coca Cola,
Microsoft, GM, Sony, Toyota, Nokia … đương nhiên là có giá trị thị
trường rất cao, và một trong những chiến lược xây dựng thương hiệu
mạnh để nâng cao giá trị thương hiệu trên thị trường là “mở rộng
thương hiệu” (brand extension). Cũng nên phân biệt thuật ngữ này với
“mở rộng chức năng của cùng một sản phẩm” (line-extension). Chẳng
hạn để liên tục phát huy lợi thế cạnh tranh, công ty Nokia cải tiến,
bổ sung thêm nhiều chức năng cho các sản phẩm điện thoại di động của
ḿnh, đó là “line-extension”, không phải “mở rộng thương hiệu”. “Mở
rộng thương hiệu chính là tạo ra thêm những thương hiệu mới hoặc
thương hiệu phụ dựa trên cơ sở uy tín của thương hiệu đang sẵn có.
Ví dụ hăng xe hơi Toyota vừa tung thêm một thương thương hiệu xe là
Vios, Vios chính là một thương hiệu phụ (sub-brand) “ăn theo” trên
uy tín của “siêu thương hiệu” (megabrand) Toyota. Những loại xe sang
trọng Lexus (cũng của hăng Toyota nhưng đứng độc lập, không nêu tên,
cũng không sử dụng logo quen thuộc của Toyota) là một thương hiệu
mới hoàn toàn. Trong trường hợp này, thương hiệu Toyota lùi lại đằng
sau đóng vai tṛ của “thương hiệu bảo trợ trong bóng tối” (shadow
endoser). Tại sao Toyota lại làm như vậy ? Nh́n từ quan điểm giá trị
thương hiệu, từ lâu Toyota đă định vị trong tâm thức người tiêu dùng
như thương hiệu của một loại xe b́nh dân, dành cho người có thu nhập
trung b́nh, nay nếu muốn tung ra một loại xe sang trọng có khả năng
thách đấu với Mercedes-Benz th́ phải tránh không dùng thương hiệu
Toyota mà phải t́m một thương hiệu mới. Nhưng nếu có ai thắc mắc về
nguồn gốc thật sự của thương hiệu Lexus th́ Toyota sẽ “bước ra khỏi
bóng tối” để tŕnh diện v́ sao thương hiệu Toyota cũng có đủ sức
nặng đáng kể của nó tỏng ngành công nghiệp xe hơi. Hăng Honda cũng
áp dụng cùng một chiến lược với loại xe Acura.
Dĩ nhiên, không phải nhà chiến lược nào cũng ủng
hộ việc “mở rộng thương hiệu”. Hai tác giả Jack Trout và Al Ries cực
lực phản đối việc này. Điều rắc rối là hai tác giả này lại dùng
thuật ngữ “line extension” để chỉ việc “mở rộng thương hiệu”. Jack
Trout và Al Ries nổi danh thế giới với tác phẩm Định vị: cuộc chiến
tranh giành vị trí trong đầu khách hàng (Positioning: the battle for
the Mind). Theo hai tác giả này, sức mạnh thương hiệu tỷ lệ nghịch
với sự mở rộng thương hiệu và những thương hiệu hàng đầu chỉ tập
trung vào một thế “định vị” duy nhất trong đầu óc người tiêu dùng:
Coca Cola chỉ có nghĩa là “nước ngọt giải khát có gas”, Nokia chỉ có
nghĩa là “điện thoại di động”, Mercedes chỉ có nghĩa là “xe hơi hạng
sang, cao cấp” … Nếu Coca Cola cũng nhảy vào lĩnh vực điện ảnh,
Nokia tham gia bán thức ăn nhanh hay Mercedes “mở rộng” sang lĩnh
vực kinh doanh may mặc, chắc chắn không sớm th́ muộn họ cũng phải
rút khỏi thị trường thứ hai này. Điển h́nh cho loại công ty ôm đồm
nhất thế giới là Unilever, trên 1600 sản phẩm, kinh doanh từ bột
giặt (thương hiệu Omo khá nổi tiếng tại VN), kem đánh răng, xà bông
(thương hiệu Dove), cho đến mỹ phẩm, trà (thương hiệu Lipton); nhưng
dù sao Unilever không dùng tên Unilever cho các sản phẩm của ḿnh mà
cẩn thận sử dụng những thương hiệu hoàn toàn độc lập với nhau.
(Nguồn: http://www.vasep.com.vn)
3. Hoàn chỉnh trong thiết kế thương hiệu
Mọi thiết kế cho
thương hiệu đều chuyển tải một thông điệp cụ thể thông qua những thủ
pháp sáng tạo của nhà thiết kế, biến những dấu chấm, h́nh khối, mầu
sắc, đường nét... thành một tác phẩm có hồn, có chất lượng thẩm mỹ,
giá trị nghệ thuật và có mục tiêu truyền đạt thông tin tiếp thị
Một thương hiệu mạnh luôn có ư thức xây dựng cho ḿnh một hệ
thống đối thoại, nhận diện chuyên nghiệp và chuẩn mực.
Hệ thống thiết kế cho thương hiệu măng cụt Lái Thiêu - Giáng
Châu (*) có thể minh họa cho tính hoàn chỉnh của một hệ thống thiết
kế thương hiệu.
Trước tiên là sự phối hợp các yếu tố trong thiết kế. Những
yếu tố này thường không mới, nhưng khi kết hợp lại theo cách mới sẽ
tạo ra một kết quả sáng tạo. Những chi tiết của trái măng cụt như có
năm múi mầu trắng muốt, vỏ mầu tím biếc và lá cuốn có bốn cánh... là
những chi tiết liên tưởng đơn giản và gần gũi với người tiêu dùng,
đă được đơn giản hóa thành logo thương hiệu và nhăn dán trên bao
b́.
Yếu tố thẩm mỹ và nghệ thuật nhằm tạo nên ấn tượng cho một hệ
thống thiết kế phải luôn dựa trên tiêu chí đơn giản, hội tụ được
h́nh ảnh của thương hiệu và khả năng bán hàng. Logo măng cụt Lái
Thiêu - Giáng Châu lấy h́nh mặt cắt của trái măng cụt làm biểu trưng,
mầu trắng làm nền chính theo h́nh năm cánh. Qua xử lư đồ họa, kết
hợp mầu tím của vỏ trái đă tạo nên một logo đơn giản, tinh tế và ấn
tượng.
Theo sau sự ấn tượng là khả năng nổi bật của hệ thống thiết
kế khi trưng bày tại các điểm bán. Kệ trưng bày h́nh trụ có bốn mặt,
trên có các khe tṛn trưng bày từng trái theo tầng, nh́n ấn tượng và
khác biệt; cờ giây được thiết kế h́nh trái măng cụt làm tôn vinh
h́nh ảnh và giá trị của loại trái cây đặc sản này.
Ngoài ra, thiết kế cũng phải có khả năng bảo vệ sản phẩm dưới
góc nh́n pháp lư và cạnh tranh thương hiệu. Logo Giáng Châu có thể
đăng kư sở hữu trí tuệ. Về mặt chức năng, các thiết kế như bao b́,
kệ trưng bày, hay các vật phẩm bán hàng, phương tiện vận tải... đều
bảo đảm được công năng sử dụng và không thể nhầm lẫn với các sản
phẩm cùng loại. Ngoài tiêu chí có tính pháp lư như nguồn gốc xuất xứ,
các dưỡng chất, trọng lượng hay số lượng, hạn sử dụng, bảo quản...
th́ những thông tin không bắt buộc và thiên về sáng tạo như những
đường nét đồ họa, h́nh ảnh, mầu sắc phải được kết hợp sao cho có
tính thẩm mỹ, rơ ràng, bắt mắt, gợi nhớ và liên tưởng về sản phẩm.
Làm bật lên sự hấp dẫn về lư tính cốt lơi của sản phẩm là một
tiêu chí bất biến cho mọi thiết kế hoàn chỉnh. Trái măng cụt cắt nửa
phần vỏ, lộ ra năm múi có mầu sắc trắng đục, tṛn căng và mọng nước
luôn là h́nh ảnh chính trên các thiết kế, quang cáo c̣n được bổ sung
thêm thông điệp "thấy chẳng quên, ăn sẽ nhớ". Chính điều này kích
thích vị giác thông qua thị giác của người tiêu dùng khi xem các
quảng cáo.
Tiêu chí có tính hoàn chỉnh cuối cùng là sự ổn định của hệ
thống thiết kế. Điều này thuộc về tầm nh́n, tính chuyên nghiệp của
nhà tiếp thị và nhà thiết kế. Mọi thiết kế tốt phải có tính bền vững
và có thể điều chỉnh theo thời gian nhưng không làm mất đi tính tổng
thể và h́nh ảnh chung của hệ thống. Cốt lơi vẫn là ở chỗ: logo, mầu
sắc, h́nh ảnh chủ đạo, phông chữ, bố cục chung là những yếu tố cần
có tính ổn định. Ngoài ra, có thể điều chỉnh các yếu tố khác dựa
trên định vị, tính cách thương hiệu, sự thấu hiểu khách hàng mục
tiêu để thương hiệu luôn được làm mới.
Trong xây dựng thương hiệu, sở hữu được một thiết kế bao b́,
sản phẩm, hệ thống nhận diện... có tính hoàn chỉnh là một tài sản và
là cơ sở cho sự phát triển của thương hiệu. Để làm được điều đó, đ̣i
hỏi nhà tiếp thị và nhà thiết kế phải có cái nh́n toàn diện, dựa
trên cạnh tranh thương hiệu, lấy người tiêu dùng làm trung tâm.
-----------------------
(*) Dự án xây dựng, phát triển thương hiệu măng cụt Lái
Thiêu - Giáng Châu đă được triển khai nhờ sự liên kết hợp tác giữa
Câu lạc bộ Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam thuộc Saigon Times
Club, Chương tŕnh liên kết đào tạo của Đại học Kinh tế TP Hồ Chí
Minh, khoa Thương mại-Du lịch-Marketing và Vietnam Marcom cùng sự
tài trợ của cà-phê ḥa tan G7.
(Thời báo Kinh tế
Sài G̣n)
4. Thương hiệu cho nông sản Hậu Giang
Khóm Cầu Đúc, bưởi Năm Roi trà Phú Hữu, cá thát lát ḿnh
trắng đang được Hậu Giang quan tâm bảo tồn giống gốc. Nếu được chính
sách hỗ trợ th́ việc xây dựng thương hiệu, tạo nên những vùng chuyên
canh nuôi trồng lớn, chất lượng cao sẽ trao cơ hội thoát nghèo cho
hàng ngàn nông hộ của Hậu Giang.
Thu hoạch Bưởi Năm
Roi...
Theo lăo nông Nguyễn Văn Tách (ngụ ấp Mỹ Hiệp, xă Hỏa Tiến, thị xă
Vị Thanh) th́ cây khóm bén chân ở vùng Cầu Đúc từ năm 1931 - năm
thực dân Pháp làm cây cầu bê tông ximăng lớn nhất miệt sông Hậu thời
bấy giờ, bắc ngang sông Cái Lớn. Người miền Tây Nam bộ xưa nay gọi
chung tất cả cầu loại này là “cầu đúc”. Và trái khóm Cầu Đúc Hậu
Giang đă 74 năm sống khỏe trên đất Hoả Tiến, kế đó là Vĩnh Viễn -
cùng là đất phèn nhiễm mặn.
Khóm Cầu Đúc thuộc giống Queen, nguồn gốc Thái-lan. Theo phân loại
của Bộ NN- PTNT, khóm Cầu Đúc của Hậu Giang thuộc tiểu nhóm “Queen
cổ điển”, trái dạng h́nh thang, cuống ngắn, lơi nhỏ, mắt lồi, hố mắt
hơi sâu, thịt màu vàng đậm, ít xơ, ít nước, ăn gịn, ngọt.
Năng suất trung b́nh 20 tấn/ha, trọng lượng 1,2 - 1,5kg/ trái. Nhiều
nông dân khẳng định: Cây giống khóm Cầu Đúc đem trồng địa phương
khác cũng đất phèn nhiễm mặn th́ phẩm chất trái giảm hẳn: nhiều xơ,
lơi to, không giữ được màu vàng đậm, vị ngọt dịu. Năm 1989, diện
tích khóm Cầu Đúc Hậu Giang đạt 4.700 ha, Liên Xô và các nước Đông
Âu là thị trường tiêu thụ chính.
Diện tích hiện nay c̣n 1.500ha. Khóm Cầu Đúc thích hợp làm nguyên
liệu chế biến nước dứa ép, dứa sấy khô không tẩm đường; kẹo, mứt;
rượu, nước giải khát có ga… Lá dứa làm sợi, bột giấy; bă dứa là
nguyên liệu tốt để chế biến thức ăn gia súc.
Xă Phú Hữu (Châu Thành - Hậu Giang)- vùng quê trù phú cặp sông Hậu -
có 2.036 ha đất sản xuất là đất vườn, diện tích bưởi “Năm Roi trà”
chiếm 1.124 ha. Với hệ thống đê bao khép kín, nửa triệu cây bưởi Năm
Roi Phú Hữu không lo bị ngập khi lũ về hạ nguồn.
Thạc sĩ Phạm Hoài An cho biết, các nhà vườn đă nhất trí xác nhận
giống bưởi này được cụ Mười Phát – ấp Phú Lễ A đưa từ Kế Sách (Sóc
Trăng) về trồng ở Phú Hữu khoảng năm 1939. Cụ Bảy Lợi năm nay 72
tuổi cho biết những cây giống đầu tiên của vườn nhà ḿnh đều lấy từ
vườn cụ Mười Phát.
Bưởi Năm Roi trà Phú Hữu (Hậu Giang) rất khác với bưởi Năm Roi dây
được trồng nhiều ở Phong Ḥa, B́nh Minh (Vĩnh Long): trái tập trung
ở thân cây (Năm Roi dây cho trái tập trung ngoài chót nhánh); trái
to, núm xổm cao, da sần màu hơi vàng, cuống trái lớn (Năm Roi dây
trái nhỏ hơn, núm gom nhọn, da bóng màu xanh, cuống trái nhỏ); phần
lá nhỏ có h́nh trái tim (lá bưởi Năm Roi dây không có đặc điểm này);
múi bưởi khi chín rất đầy đặn, không hạt; màu vàng mỡ gà, tép bưởi
ráo rẻ, vị ngọt thoảng chua thanh, không đắng, the (bưởi Năm Roi dây
khi chín cũng không hạt, không đắng, the, nhưng thịt trái màu vàng
nhạt, vị ngọt dịu).
Bưởi Năm Roi trà trái lớn, vỏ vàng đẹp nên giá cao; “rượu bưởi” Phú
Hữu cũng rất được ưa chuộng. Hiện nay sản lượng bưởi cả xă đạt trên
84.300 tấn/năm (b́nh quân 210 trái/cây/năm). Ưu điểm của bưởi Năm
Roi trà Phú Hữu là trồng tập trung, dễ đầu tư kỹ thuật tạo nguồn
trái chất lượng cao cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu hoặc
tiêu thụ nội địa.
10 năm trước, vào cận tết, khi cải tần ô rộ chợ th́ cũng là lúc
người ĐBSCL ăn… cá thát lát v́ thời điểm này giá cá thát lát rẻ nhất.
Bây giờ đă khác xưa: cá thát lát cao giá quanh năm, 80.000 - 100.000
đồng/kg cá nạo thịt. Theo kỹ sư Đặng Ngọc Giao, hệ sinh thái mặt
nước Hậu Giang rất đa dạng, nơi thường trú của 145 loài cá; khu vực
có cá thát lát nhiều nhất tỉnh là huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, thị xă
Vị Thanh.
Cá thát lát Hậu Giang ḿnh trắng, vảy sáng; thịt cá trắng hồng, sớ
thịt mịn. Cá nơi khác ḿnh đen, vảy to, thịt trắng đục. Trong đợt
thu mẫu ngày 8-11-2004, Chi cục Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ
sản TP Cần Thơ phân tích: 1,92kg cá nguyên liệu nạo được 1kg thịt (cá
nơi khác cần 2,2kg); hàm lượng béo thô của cá thát lát Hậu Giang là
2,1% (cá nơi khác 0,13%).
Theo kết quả phân tích của Bộ môn Công nghệ thực phẩm - Trường ĐH
Cần Thơ: hàm lượng protein thô của cá thát lát Hậu Giang là 17,08% (cá
nơi khác 15,95-16,21%). Trước năm 1985, mùa thu hoạch cá chính vụ là
từ sau khi nước lũ rút - tháng 10ÂL - đến hết tháng 2ÂL, chỉ 1 xă
Vĩnh Viễn đă thu hoạch 50-70 tấn/năm.
Hiện nay sản lượng cá thát lát khai thác trong toàn tỉnh Hậu Giang
khoảng 360 tấn/năm, đáp ứng 10% nhu cầu thị trường. Hậu Giang có hơn
54.000ha mặt nước có thể nuôi thuỷ sản nước ngọt, một trung tâm
giống nông nghiệp, hai cơ sở sản xuất cá thát lát giống với thiết bị,
quy tŕnh hoàn chỉnh, sản xuất 4-5 triệu cá bột/năm.
(Sài G̣n giải phóng)
5. Người tạo ra thương hiệu nông sản “chín sao”
Vừa qua, trong đoàn doanh
nhân Việt Nam tháp tùng Thủ tướng Phan Văn Khải trong chuyến công du
Hoa Kỳ và Canada, bà Lê Thị Giàu, Giám đốc Công ty TNHH Tấn Hưng ở
TP Hồ Chí Minh đă kư một hợp đồng bán nông sản cho các nhà nhập khẩu
Canada trị giá tới 25 triệu USD.
Xuất thân trong một gia
đ́nh nông dân “thứ thiệt” ở vùng Bưng Sáu Xă thuộc huyện Thủ Đức -
TP Hồ Chí Minh, thuở thiếu thời bà Giàu cũng làm ruộng như bao nhiêu
thôn nữ đồng trang lứa. Cô Giàu chân lấm tay bùn giỏi nhổ mạ, cấy
lúa, gặt lúa trên mảnh đất quê hương nghèo khó. Lớn lên, cô Giàu đi
học trung cấp kế toán, tốt nghiệp được bổ về làm kế toán viên Sở
Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh. Dù làm việc chuyên môn nhưng cô không
thoát ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp.
Khi đất nước bắt đầu đổi mới, bà Giàu xin nghỉ làm việc Nhà nước để
thực hiện ước mơ góp phần khuếch trương nông nghiệp. Khởi nghiệp, bà
lập Công ty TNHH Tấn Hưng chuyên kinh doanh phân bón ở khu vực bến
Trần Xuân Soạn, quận 7 - TP Hồ Chí Minh. Khách hàng của công ty toàn
là nông dân. Nhận thấy chất lượng phân NPK ngoại nhập không ổn định
có thể ảnh hưởng không tốt đến năng suất cây trồng, giá cả lại thất
thường và cũng v́ gắn bó với đồng ruộng, bà Giàu đă dồn hết vốn
liếng chắt chiu từ kinh doanh, mạnh dạn đầu tư sản xuất phân NPK nội
địa có chất lượng phù hợp với từng vùng thổ nhưỡng Việt Nam.
Một nhà máy sản xuất phân NPK được thiết lập ở B́nh Điền, huyện B́nh
Chánh, sát bên sông Chợ Đệm. Sản phẩm xuất xưởng là bao phân nhăn
hiệu Tấn Hưng với logo Thần Nông hết sức gần gũi với nông dân. Sản
phẩm có chất lượng bảo đảm năng suất, giá bán hợp lư nên nhanh chóng
gầy dựng được thị phần tiêu thụ rộng lớn.
Từ đây, bà Giàu khuếch trương ngành nghề chế biến gạo xuất khẩu.
Công ty Tấn Hưng lập thêm nhà máy xay xát gạo được các nhà nhập khẩu
nước ngoài đặt quan hệ giao thương. Bà Giàu xót xa nhận thấy gạo
Việt Nam ngon nhưng bị đánh đồng với giá cả thấp trên thị trường
quốc tế chính v́ chưa có thương hiệu riêng. Thế là, Công ty Tấn Hưng
thu mua các loại gạo đặc sản, xay xát kỹ, vô bao b́ có thương hiệu
đàng hoàng, xuất sang các thị trường tiêu thụ cao cấp với giá cao.
Khách hàng nước ngoài có nhu cầu cao, bà về vùng chuyên canh lúa đặc
sản Nàng Thơm Chợ Đào ở Long An kư hợp đồng ứng vốn cho nông dân rồi
bao tiêu hết sản lượng lúa theo giá thỏa thuận, chế biến ra gạo
thương phẩm có phẩm chất cao để xuất khẩu. Mở rộng chương tŕnh xuất
khẩu gạo ngon, bà Giàu lập cả dự án “Cánh đồng lúa vàng” đầu tư cho
nông dân ở ngoại thành TP Hồ Chí Minh và các tỉnh ĐBSCL, hướng dẫn
kỹ thuật canh tác tiến bộ giống lúa Nàng Thơm. Đến mùa, bao tiêu
toàn bộ sản lượng lúa đặc sản để chế biến xuất khẩu.
Không dừng lại ở đó, bà Giàu cùng các cộng sự ở Công ty Tấn Hưng c̣n
mở rộng giá trị gia tăng các sản phẩm nông nghiệp khác. Công ty đầu
tư xây dựng một công viên công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp
Việt Nam rộng 20 ha ở B́nh Điền, huyện B́nh Chánh-TP Hồ Chí Minh,
thuận lợi giao thông thủy bộ. Nhà xưởng ngăn nắp bảo đảm vệ sinh
công nghiệp với trang thiết bị hiện đại, xưởng nào ra xưởng ấy
chuyên biệt.
Công ty Tấn Hưng đặt quy tŕnh công nghệ chăm chút nông sản theo
tiêu chuẩn “chín sao”. Theo đó, doanh nghiệp kết hợp cùng nông dân
từ công đoạn đầu tiên phải xuống giống cây trồng tốt, hoàn toàn
không bị sâu bệnh đạt “một sao”. “Sao” thứ hai là hướng dẫn nông dân
canh tác theo phương pháp xanh - sạch. Kế tiếp, thu hoạch sơ chế
nông phẩm tại chỗ, đúng cách, bảo quản nghiêm ngặt. Nguyên liệu nhập
về nhà máy được kiểm nghiệm 100%. Nhà xưởng chế biến sạch sẽ. Dây
chuyền chế biến khép kín, riêng biệt. Đóng gói sản phẩm theo tiêu
chuẩn vô trùng. “Sao” thứ chín là thành phẩm an toàn tuyệt đối cho
người tiêu dùng.
Vậy đó, gạo thơm, tiêu đen, cà phê, hạt điều, đậu phộng... tiêu
chuẩn “chín sao” đóng gói mang thương hiệu Tấn Hưng được gia tăng
giá trị trên thị trường. Phù hợp thị hiếu tiêu dùng nội địa và xuất
khẩu ngày càng đ̣i hỏi cao cấp hơn. Nhờ vậy, nông dân có được thị
trường tiêu thụ nông sản ổn định với giá cả bảo đảm lợi tức không bị
thua thiệt.
(Thời báo kinh tế
Việt Nam)
6. Mua thương hiệu: Lối tắt hiệu quả
Việc Công ty Cổ phần Kinh Đô mua lại thương hiệu kem Wall's
cùng toàn bộ nhà máy, dây chuyền sản xuất của nhà máy kem Wall's của
Tập đoàn Unilever đă được các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước
đánh giá cao. Nhiều người cho rằng, đây là tín hiệu chứng tỏ các
doanh nghiệp nội địa đă nhạy bén trong chiến lược kinh doanh, tiếp
cận tính chuyên nghiệp trong đầu tư vào thương hiệu.
Thực ra, trên thế giới,
các hợp đồng mua bán công ty, mua bán thương hiệu hay nhượng quyền
sử dụng nhăn hiệu là chuyện thường gặp. Câu chuyện này tuy c̣n mới ở
Việt Nam, nhưng không phải là hiếm có. Công ty Phương Đông đă bán
nhăn hiệu kem đánh răng P/S cho Unilever, phía đối tác nước ngoài
trong liên doanh nhà máy bia Đông-Nam Á mua thương hiệu bia Halida,
công ty sản xuất xe máy tư nhân Hoa Lâm mua lại quyền sử dụng thương
hiệu động cơ xe máy Dealim của Hàn Quốc để tiêu thụ trên thị trường
Việt Nam...
Rơ ràng là hơn bao giờ hết, sự thua thiệt trong vấn đề thương hiệu
đă được các doanh nghiệp Việt Nam đặt lên bàn cân một cách nghiêm
túc để đưa ra các chiến lược kinh doanh hợp lư cho từng thời kỳ phát
triển của doanh nghiệp cũng như trước nhưng biến động của thị trường.
Tất nhiên, thương hiệu chỉ là bước đầu chia một chiến lược kinh
doanh lâu dài. Theo ông Trần Hữu Huỳnh. Trưởng ban Pháp chế của
Pḥng Thương mạt và Công nghiệp Việt Nam, thương hiệu chưa phải là
yếu tố cơ bản. "Việc đầu tư vào thương hiệu của doanh nghiệp phải
được xem xét trên các yếu tố về năng lực cạnh tranh, chất lượng sản
phẩm..., đặc biệt là sự linh hoạt và nhạy bén của doanh nghiệp trong
môi trường kinh doanh luôn biến động", ông Huỳnh nói.
Có thể lấy sản phẩm cá ba sa của Agifish làm thí dụ. Trước khi thị
thương xuất khẩu của sản phẩm này gặp khó khăn th́ người tiêu dùng
trong nước, đặc biệt là người tiêu dùng ở khu vực miền bắc không có
nhiều thông tin về sản phẩm này. Nhưng ngay sau khi xảy ra vụ kiện
bán phá giá cá ba sa, sản phẩm này đă xuất hiện một cách khá nhanh
chóng và tiêu thụ có kết quả tại thị trường nội địa. Agifish đă lợi
dụng ngay sự nổi tiếng của cá ba sa nhờ sự kiện và đă nhanh chóng mở
rộng thị trường nội địa bằng chinh thương hiệu đang sử dụng. Việc
lựa chọn chiến lược quảng bá đúng đắn đă khiến cá ba sa tiếp cận
ngay được với người tiêu dùng trong nước mà không cần phải t́m một
thương hiệu mới nào.
Về vấn đề này, bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban nghiên cứu của Thủ
tướng Chính phủ cho rằng, với những doanh nghiệp chưa xây dựng được
thương hiệu riêng cho những thị trường mới, dù đó là trong nước hay
nước ngoài, th́ cách thức tiếp cận với thương hiệu không phải là một
lối ṃn. Việc mua bán thương hiệu là một chiến lược cần được các
doanh nghiệp tính toán cẩn trọng. "Mua quyền sử dụng các thương hiệu
lớn thường có giá thành rất cao. Đặc biệt, gần với các hợp đồng mua
bán này thường có những điều kiện kèm theo, như mua các sản phẩm của
doanh nghiệp bán thương hiệu...", bà Chi Lan nói.
Chính v́ vậy, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc tham gia vào
một chuỗi các dây chuyền sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm của những
thương hiệu đă nổi tiếng có thể là lối đi tắt hợp sức hơn. Các doanh
nghiệp song song đạt được hai mực tiêu, đó là vừa được mang thương
hiệu nổi tiếng với chi phí thấp hơn, vừa khẳng định được chất lượng
hàng hóa, uy tín của doanh nghiệp ḿnh chính nhờ vào thương hiệu đó.
Đặc biệt, các doanh nghiệp tại các làng nghề truyền thống như Bát
Tràng, Phú Quốc... có thể chọn h́nh thức chung sức trong việc xây
dựng và sử dụng thương hiệu mang tên tuổi của làng nghề. Với cách
làm này, chi phí để xây dựng, quảng bá thương hiệu sẽ tiết kiệm rất
nhiều và đạt hiệu quả cao.
Tất nhiên, thành công của thương hiệu chung sữ phụ thuộc rất nhiều
vào sự gắn kết, hợp sức của các doanh nghiệp trong các bước từ giám
sát chất lượng sản phẩm, thực hiện các cam kết về giao dịch..., đến
xây dựng chiến lược. Song, đây lại là điểm yếu của các doanh nghiệp
Việt Nam. Rất nhiều chuyên gia kinh tế đă thừa nhận rằng, các doanh
nghiệp trong cùng ngành nghề nh́n nhau với con mắt của đối thủ cạnh
tranh nhiều hơn là đối tác hợp tác kinh doanh. Chính v́ vậy, sự tích
cực trong việc liên kết các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề hầu
như không được các doanh nghiệp Việt Nam khai thác. Theo ông Trần
Hữu Huỳnh: "Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi thói quen đó
để tham gia vào các tổ chức mang tính cộng đồng nhiều hơn v́ chính
sự liên kết là công cụ hiệu quả giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trên thế giới đứng vững trong cạnh tranh toàn cầu".
7. Cạnh tranh thương hiệu
Sự có mặt ngày càng nhiều
các thương hiệu nước ngoài trong lĩnh vực hàng tiêu dùng đang tạo ra
một sức cạnh tranh ghê gớm đối với các DN trong nước. Mạnh về tài
chính, giàu về kinh nghiệm, tŕnh độ quản lư, tổ chức kinh doanh...
các tập đoàn, công ty nước ngoài đang tăng mạnh sức ép lên các
thương hiệu trong nước.
Vất vả cạnh tranh
Bột giặt Daso đang phải đối mặt với Omo, Tide; sữa Vinamilk,
Nutifood phải cạnh tranh với Nestle, Abott, Mead&Johnson, Dumex...;
bia Sài G̣n, Laser đang "chống trả" Heineken, Tiger, Foster... Trao
đổi với chúng tôi, nhiều DN có cùng nhận định thị trường đang diễn
ra một cuộc chiến không cân sức. Ông Phan Minh Có - Tổng giám đốc
Tribeco cho biết: "Tôi từng làm việc với công ty nước ngoài, họ vạch
một kế hoạch 12 năm, bảy năm đầu chấp nhận lỗ để giành thị phần. DN
trong nước chúng ta ai dám lên một kế hoạch như thế? Lỗ hai, ba năm
th́ giám đốc chắc là ngồi không vững rồi huống hồ là bảy năm".
Ông Lê Văn Chính, Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ Việt (Vitek),
tâm sự: "Thị trường hàng điện tử Việt Nam dù nhỏ nhưng có sự hiện
diện đầy đủ của các "anh hào" điện tử toàn cầu: Sony, Panasonic,
Toshiba, Samsung, LG... Các DN Việt Nam rất vất vả trong cuộc cạnh
tranh này, thất bại là khả năng khó tránh khỏi". Hiện các sản phẩm
lắp ráp trong nước đang chiếm khoảng 70% thị phần hàng điện tử Việt
Nam, tuy nhiên phần lớn vẫn là những thương hiệu của các tập đoàn
điện tử hàng đầu thế giới.
Theo nghiên cứu của Công ty GFK trong năm 2004, các sản phẩm thương
hiệu Việt Nam chỉ chiếm 6% thị phần sản phẩm điện tử nghe nh́n; 48%
là các sản phẩm có thương hiệu Nhật Bản và 35% là các thương hiệu
Hàn Quốc... Đối với sản phẩm điện tử gia dụng, thương hiệu Việt Nam
chỉ chiếm 3%; các thương hiệu Nhật chiếm 53%; các thương hiệu Hàn
Quốc là 35%...
Những cuộc phản công... đơn lẻ
"Đoàn kết hay... chết hết !" - đó là vấn đề các doanh nghiệp (DN)
trong nước buộc phải lựa chọn. Nhận định này của một số chuyên gia
kinh tế đă được nhiều DN đồng t́nh. Bởi theo họ, cuộc chiến giữa các
thương hiệu trong nước và nước ngoài đang diễn ra ngày một quyết
liệt, sự yếu thế của các DN trong nước ngày càng rơ hơn.
Một số DN sản xuất hàng tiêu dùng trong nước đă nỗ lực rất lớn và
đạt được những thành quả bước đầu trong cuộc cạnh tranh với các
thương hiệu nước ngoài. Có thể kể sản phẩm nước tăng lực Number One
của Công ty Tân Hiệp Phát như một điển h́nh. Bất ngờ xuất hiện một
cách ấn tượng trên thị trường với phong cách mới lạ và độc đáo,
những chai nước tăng lực Number One đă kéo tụt doanh số của những "đại
gia" nước giải khát có ga, nhảy lên vị trí số một cả về thị phần lẫn
doanh số của ngành giải khát trong một thời gian dài. G7 - sản phẩm
cà phê ḥa tan của Công ty Cà phê Trung Nguyên ngay khi xuất hiện đă
lập tức cho thấy khả năng... đe dọa các đại gia khác trong lĩnh vực
này. Ngay lập tức, thị trường cà phê ḥa tan sôi động với những phản
ứng của Nescafe khi thương hiệu này cùng lúc tung ra đến ba loại
phục vụ những đối tượng thích gu cà phê từ nhạt đến đậm. Nescafe
cũng đưa ra thông điệp "100% cà phê Việt Nam" nên "hương vị Việt Nam
hơn" để đối chọi với lời kêu gọi "Người Việt dùng hàng Việt" của
Trung Nguyên...
Tuy nhiên, những cuộc "phản kích" như vậy của các thương hiệu trong
nước không nhiều. Chuyện được nhắc nhiều hơn là những thất bại của
một số thương hiệu trong nước trong cuộc chiến này mà sản phẩm bia
L. là một thí dụ. Đầu tư công nghệ, tiếp thị rất lớn nhưng bia L.
vẫn phải chịu thất bại khi các kênh phân phối quan trọng trên thị
trường như hệ thống nhà hàng, khách sạn, quán ăn... đều đă bị các
thương hiệu nước ngoài khống chế.
Nhiều DN đă có cùng quan điểm: để có thể tồn tại, các DN trong nước
phải liên kết để tạo nên sức mạnh. Một cuộc vận động t́m kiếm sự
liên kết cũng đă được khởi xướng bởi Câu lạc bộ Hàng Việt Nam chất
lượng cao từ việc các DN sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhau. Bà Phạm
Thị Việt Nga - Tổng giám đốc Công ty Dược Hậu Giang cho biết: "100%
nhà xưởng của chúng tôi dùng đồ điện của Điện Quang, đồng phục của
nhân viên th́ mua của Tây Đô, Phước Thịnh, tính ra mỗi năm chúng tôi
xài cả 10 tỷ đồng tiền mua nữ trang của PNJ để thực hiện các chương
tŕnh khuyến măi...". Tuy nhiên, sự liên kết này cũng chỉ mới ở mức
sơ khởi.
Ngành dệt may Việt Nam đầu năm 2005 đă chứng kiến sự ra đời của một
số chuỗi liên kết theo khuyến khích của Bộ Thương mại. Thế nhưng,
một DN cho biết hiệu quả của các chuỗi này thật sự chỉ nằm trên giấy
tờ. Bởi sự liên kết này chỉ mang tính đối phó nhằm "kiếm" được số
hạn ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ mà Bộ Thương mại ưu tiên. "Trong
ngành may, chưa có chuỗi liên kết nào đạt được yêu cầu và được thực
hiện đúng nghĩa về liên kết dọc (sản phẩm doanh nghiệp này là nguyên
liệu đầu vào của DN kia) hay liên kết ngang (các DN có cùng sản phẩm).
Nếu có chỉ là sự liên kết ngắn hạn khi cần thực hiện một đơn hàng
lớn", ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may thêu đan TP
Hồ Chí Minh cho biết. Cũng theo ông Kiệt, cơ sở để tạo thành sự liên
kết bền vững là các DN phải thật sự cần nhau. Để từ đó đi đến sự
thống nhất chung về giá cả (như liên kết dọc) hoặc về công nghệ (liên
kết ngang).
Tổng giám đốc Công ty Cà phê Trung Nguyên - Đặng Lê Nguyên Vũ th́
chú trọng một khía cạnh khác. Ông Vũ nhận định: "Ngày nào chúng ta
chưa có một hệ thống phân phối hàng Việt th́ lúc đó sức liên kết
chưa mạnh. DN Việt Nam phải dựa vào nhau để vừa giảm chi phí vừa
tăng sức cạnh tranh mới mong tồn tại bền vững được".
Yếu thế v́ thiếu tin tưởng lẫn nhau
Gần đây, ông Huỳnh Văn Hạnh, Giám đốc Công ty Đồ gỗ xuất khẩu Minh
Phương, kể rằng điều mà ông luôn trăn trở là chuyện các doanh nghiệp
cùng ngành nghề cần phải liên kết để cùng phát triển. Điều này càng
đặc biệt cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế đất nước hội nhập
nhanh chóng vào khu vực và thế giới, nhiều cơ hội lớn mở ra đồng
thời áp lực cạnh tranh cũng tăng lên ghê gớm.
Theo các chuyên gia kinh tế, yêu cầu liên kết ở mức cơ bản bao gồm
những DN có khả năng sẽ là những mũi nhọn t́m kiếm thị trường, thiết
kế chiến lược cạnh tranh; các DN vừa và nhỏ làm vệ tinh sản xuất,
chuyên môn hóa cụ thể cho từng đơn hàng có được. Quá tŕnh sản xuất
một sản phẩm tiêu dùng chẳng hạn như chế biến gỗ hay dệt may... có
nhiều công đoạn khác nhau trong khi khả năng của các DN luôn giới
hạn. Nếu mỗi DN với năng lực có giới hạn của ḿnh chọn đầu tư tập
trung vào một hay một vài công đoạn nào đó thay v́ đầu tư dàn trải
th́ chắc chắn sẽ đạt hiệu quả tốt hơn. Việc liên kết nhiều DN được
tổ chức sản xuất theo hướng chuyên môn hóa sẽ giúp hiệu quả hoạt
động của ngành cao hơn, sức cạnh tranh trên thị trường sẽ được nâng
cao. DN giảm được gánh nặng vốn đầu tư ban đầu, vốn lưu động, chi
phí đào tạo, quản lư, chi phí sản xuất, tăng hiệu quả hoạt động...
Để thực hiện được sự liên kết này, điều kiện cơ bản nhất là niềm tin
giữa các DN với nhau. Tuy nhiên theo ông Huỳnh Văn Hạnh, đây là cái
thiếu của hầu hết DN Việt Nam, dù hầu như doanh nhân nào cũng ư thức
được sự cần thiết phải liên kết. Không muốn chia sẻ thị trường, sợ
mất khách hàng, luôn giấu giếm thông tin lẫn nhau... đó là những
chướng ngại đang chắn giữa các DN. Ông Diệp Thành Kiệt - Phó chủ
tịch kiêm Tổng thư kư Hiệp hội Dệt may thêu đan TP Hồ Chí Minh - cho
rằng, sự liên kết đó phải do chính các DN tạo ra, hội cũng không thể
làm thay được. Một khi chuyện thiếu niềm tin giữa các DN trong nước
vẫn c̣n tồn tại th́ khó có thể nói đến việc liên kết sản xuất.
(Thanh niên)
8. Đ̣i được nhăn hiệu VNPT tại Mỹ
Nhăn hiệu VNPT và bốn nhăn
hiệu công ty khác là Viettel, VDC, VTI và Saigon Postel bị đăng kư ở
Mỹ vừa được một công ty luật trong nước đ̣i lại thành công với chi
phí thấp.
Nửa cuối năm 2002, khi
Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) dự định đăng kư bản quyền
nhăn hiệu của ḿnh tại Mỹ th́ mới té ngửa ra rằng nhăn hiệu đă được
một đối tác ở bang Illinois, Mỹ đăng kư trước. Công ty này (tên đầy
đủ là Viaworld Internet Telecommunications Corporation - VITC) c̣n
nộp đơn đăng kư tại Cơ quan Sáng chế và Nhăn hiệu của Mỹ (USPTO) cả
bốn nhăn hiệu của các công ty bưu chính viễn thông khác gồm Viettel,
VDC, VTI và Saigon Postel.
Một bản fax của Công ty VITC cho Văn pḥng Luật sư Lê & Lê, đại diện
của phía VNPT, giải thích rằng họ làm vậy v́ “theo pháp luật của Mỹ,
VNPT không thể đăng kư bản quyền và nhăn hiệu hàng hóa tại Mỹ cho
các tên VNPT,VTI và VDC”.
Lê & Lê chứng minh điều này không đúng v́ Việt Nam và Mỹ đều là
thành viên Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Mỹ và
Việt Nam đă có hiệp định thương mại song phương, trong đó có phần về
quyền sở hữu trí tuệ. Ông Lê Hoài Dương, Trưởng văn pḥng Luật sư Lê
& Lê, nhận xét: “Rất khó tin là luật sư của VITC không hiểu điều này.
Tuy nhiên, chúng tôi không hiểu được động cơ của VITC khi đăng kư”.
Thành lập tại Mỹ, nhưng VITC có nhiều nhân viên người Việt và là
công ty đối tác chủ yếu của VNPT tại Mỹ từ năm 1995. Ông Nguyễn Bá
Thước, Phó tổng giám đốc VNPT, cho biết hiện tổng công ty đang
thương thảo kư hợp đồng với VITC kinh doanh dịch vụ điện thoại
Internet (VoIP) tại Mỹ. “Chúng tôi vẫn tiếp tục quan hệ hợp tác tốt
với VITC”, ông nói.
Một kế hoạch hành động nhanh được vạch ra để đ̣i lại những nhăn hiệu
quan trọng này. Do Công ty VITC mới nộp đơn đăng kư từ tháng 6-2002
nên chưa chính thức được phía Mỹ công nhận. Theo luật của Mỹ, một
nhăn hiệu chỉ có thể được đăng kư tại Mỹ khi nhăn hiệu đó đă được sử
dụng tại Mỹ cho các sản phẩm và dịch vụ xin đăng kư. Một trong số
những ngoại lệ cho quy định này là nhăn xin đăng kư vào Mỹ đă được
đăng kư tại nước xuất xứ.
Ngày 24-9-2002, VNPT gấp rút nộp đơn đăng kư nhăn hiệu tại Cục Sở
hữu trí tuệ Việt Nam. Theo quy tŕnh thông thường, th́ phải 14 tháng
sau nhăn hiệu VNPT mới được chính thức công nhận tại Việt Nam. Nếu
vậy, đơn của VITC có thể đă được chấp nhận ở Mỹ và thủ tục đ̣i lại
sẽ rắc rối và tốn kém hơn rất nhiều. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đă
nhanh chóng hoàn thành thủ tục đăng kư cho VNPT trong ṿng ba tháng.
Tháng 1-2003, VNPT nộp đơn đăng kư nhăn hiệu tại Cơ quan Sáng chế và
Nhăn hiệu của Mỹ, xin hưởng quyền ưu tiên của đơn đă được nộp tại
Việt Nam. Tuy nhiên, tháng 7-2003, Cơ quan Sáng chế và Nhăn hiệu của
Mỹ thông báo có thể từ chối đơn đăng kư nhăn hiệu của VNPT do nhăn
này có thể gây nhầm lẫn với nhăn hiệu đă nộp trước của VITC.
Sau nhiều lần thúc giục, cuối cùng Công ty VITC đă rút bỏ các đơn
đăng kư nhăn hiệu trên của các công ty Việt Nam và VNPT chính thức
được cấp giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu tại Mỹ vào tháng 1 năm
nay.
Ông Lê Hoài Dương nói điều quan trọng là chi phí cho vụ đ̣i nhăn
hiệu này thấp hơn nhiều so với một số vụ tương tự. Thay v́ thuê công
ty luật của Mỹ với chi phí vài trăm USD một giờ, Lê & Lê làm hầu hết
công việc nghiên cứu, đưa ra giải pháp và soạn thảo văn bản, công ty
luật nước ngoài chỉ xem xét lại lần cuối. Nhờ đó chi phí rất ít, chỉ
khoảng 8.000 USD trong khi có doanh nghiệp Việt Nam phải chi hàng
trăm ngàn USD cho những vụ việc tương tự.
Tuy nhiên, đăng kư được nhăn hiệu chưa phải là đă hết. Theo luật của
Mỹ, sau năm thứ 5 và năm thứ 9, chủ sở hữu nhăn hiệu phải có thông
báo đến USPTO chứng minh rằng nhăn hiệu đang được sử dụng tại Mỹ th́
mới được tiếp tục duy tŕ sở hữu. Nhăn hiệu với logo hoa sen của
Vietnam Airlines đă hết hiệu lực trên website của USPTO từ tháng
3-2005. Vietnam Airlines đăng kư từ năm 1998, và theo phỏng đoán của
một số chuyên gia sở hữu trí tuệ, có lẽ Vietnam Airlines đă không
kịp thời làm bản thông báo về việc nhăn hiệu được sử dụng tại Mỹ nên
bị USPTO hủy quyền sở hữu. Như vậy, nếu có ai nhanh tay đăng kư nhăn
hiệu Vietnam Airlines trong thời gian này th́ câu chuyện tranh chấp
tốn kém sẽ lại diễn ra. Một số nhăn hiệu khác như Ngân hàng Sài g̣n
Thương Tín cũng trong t́nh trạng tương tự.
Mặc dù VITC đă rút đơn, nhưng hiện thời VNPT mới chỉ đăng kư hai
nhăn hiệu chính của ḿnh tại Mỹ. C̣n các công ty con như VDC, VTI
th́ vẫn chưa đăng kư. Ông Thước nói không muốn đăng kư riêng những
nhăn hiệu này v́ sợ sẽ làm “loăng” nhăn hiệu VNPT. “Những nhăn hiệu
này cần được đăng kư dưới logo VNPT chứ không phải đứng độc lập”,
ông Thước nói.
Chuyện ǵ sẽ xảy ra nếu các công ty con của VNPT được cổ phần hóa,
thoát khỏi ṿng kiểm soát của tổng công ty mẹ nhưng vẫn sử dụng nhăn
hiệu VNPT? VNPT đang gấp rút soạn thảo hợp đồng license về sử dụng
nhăn hiệu cho 115 đơn vị trực thuộc và đăng kư tại Cục Sở hữu công
nghiệp. Một bước lo xa không thừa.
(Thời báo kinh tế
Sài G̣n) |