|
BẢN
TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỐ 02
(Tuần từ
04-10/07/2005)
(Được thực hiện với sự liên kết của Công ty tư vấn luật
LEADCO)
Địa chỉ: 85 Trần
Quốc Toản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Việt Nam
Tel:(84-4) 9425633/34 * Fax:(84-4) 9425632
Email:
leadco@hn.vnn.vn
Để
luôn được nhận những thông tin mới nhất về pháp luật, hăy đăng kư
nhận bản tin định kỳ SMEnet, bạn hăy
bấm vào đây. Để được tư
vấn về pháp luật nếu bạn c̣n những thắc mắc, hăy
bấm vào đây. Để nhận đựoc nội dung
chi tiết các văn bản pháp luật mới , hăy
bấm vào
đây.
1. Hội thảo quốc tế với chủ đề “Thách thức những Thương hiệu
lớn”
Ngày 28/6/2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh đă diễn ra Hội thảo quốc tế
với chủ đề “Thách thức những Thương hiệu lớn” do Công ty PACE và
Hiệp hội Marketing thế giới tổ chức
Quá tŕnh hội nhập quốc tế của Việt Nam diễn ra ngày càng toàn diện
đă mang lại nhiều cơ hội kinh doanh nhưng cũng đồng thời đưa đến
những thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt nam. Trong
bối cảnh đó, thương hiệu – một h́nh ảnh toàn diện nhất về một sản
phẩm, một doanh nghiệp – trở thành chủ đề tâm điểm của Hội thảo.
Tham dự Hội thảo, có đại diện của rất nhiều các doanh nghiệp Việt
Nam với các Thương hiệu tầm cỡ quốc gia như cà phê Trung Nguyên, sữa
Vinamilk, gạch Đồng Tâm, bánh kẹo Kinh Đô,…Ngoài ra cũng phải kể đến
sự hiện diện các lănh đạo của các Công ty nước ngoài với các thương
hiệu tầm cỡ quốc tế như sữa Dutch Lady (Cô gái Hà Lan), Adidas,
Nestle, Prudential, Honda.
Hội thảo đă tập trung thảo luận 2 vấn đề chính: (1) thực trạng
Thương hiệu Việt hiện nay, và (2) kế sách nào để Thương hiệu Việt
thắng trên sân nhà.
1. Thực trạng Thương hiệu Việt hiện nay:
Ông Giản Tư Trung, Chủ tịch HĐQT Công ty PACE nhận định trong nội bộ
nền kinh tế Việt Nam đang diễn ra hàng loạt những cuộc chiến khốc
liệt giữa các Thương hiệu Việt với Thương hiệu nước ngoài trên đất
Việt như cà phê G7 và Nescafe, Number One và Sting, dầu nhờn Vilube
và Castrol, sữa Vinamilk và Dutch Lady. Nhiều người nhận định, đó
thực sự là cuộc chiến không cân sức v́ thương hiệu Việt nằm ở thế
yếu hơn, trong khi các thương hiệu nước ngoài mạnh hơn hẳn về tài
chính, bề dày, tính chuyên nghiệp và kinh nghiệm. Hầu hết các thương
hiệu nước ngoài trên đất Việt đều thuộc sở hữu của các tập đoàn đa
quốc gia. Với sức mạnh và tiềm lực tài chính dồi dào, họ sẵn sàng
chi những khoản tiền hàng triệu đô la cho chiến dịch tiếp thị, quảng
cáo cùng với các chính sách chiết khấu hấp dẫn và quà tặng có giá
trị lớn cho các đại lư và khách hàng. Chẳng hạn như cuộc chiến về
giá cả của bột giặt: mua 2 tặng 1, giá không đổi; hoặc gải thưởng
khuyến măi giá trị hàng chục tỷ, từ hàng chục kg vàng, biệt thự đến
cả xe hơi. Một điều không khó nhận ra là những tập đoàn này sẵn sàng
chiụ lỗ vài năm để chinh phục thị trường Việt Nam. Theo thống kê có
đến 80% các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều thông báo lỗ.
2. Kế sách nào để thắng trên sân nhà?
Ông Hermawan Kartajaya – Chủ tịch Hiệp hội Marketing thế giới cho
rằng những thương hiệu hàng đầu Việt Nam hiện nay nếu không cạnh
tranh để thắng ngay trên sân nhà trước các thương hiệu nước ngoài
đang và sẽ có mặt tại Việt Nam th́ không thể bước ra thị trường thế
giới, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO. Ông cũng chỉ 8 tôn chỉ cho thương hiệu thách thức bao gồm:
1) Dứt bỏ ngay quá khứ;
2) Xây dựng một hệ thống nhận diện ấn tượng;
3) Chiếm lĩnh vị trí thống trị trong tâm trí người tiêu dùng;
4) Tạo ra một biểu tượng giá trị mới
5) Biết hy sinh;
6) Cam kết vượt bậc với người tiêu dùng;
7) Sử dụng phương tiện quảng cáo và phương tiện thông tin đại chúng
như là tài sản quư giá; và
8) Tập trung ư tưởng hơn là tập trung ư kiến của người tiêu dùng.
Ông Trung cho rằng “được-mất-bại thành” từ các cuộc chiến thương
hiệu sẽ như thế nào đều đ̣i hỏi các doanh nghiệp, các thương hiệu
mạnh của Việt Nam thuộc các ngành nghề khác nhau phải ngồi cùng nhau
lên kế sách, chẳng hạn như tạo lập hệ thống phân phối quốc gia, hệ
thống phân phối quốc tế để tiết kiệm chi phí cho nhau, đ̣i hỏi có sự
hỗ trợ từ phía chính phủ về mặt chính sách, ngoại giao.
(Theo Thời báo Kinh tế
Việt Nam, số 129 Thứ Năm ngày 30/6/2005)
2. Hội thảo với chủ đề Hiệp ước hợp tác về sáng chế (PCT)
Trong hai ngày 30/6 và 01/7/2005, Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT)
đă phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và Cơ quan
SHTT Hàn Quốc (KIPO) tổ chức Hội thảo "Hiệp ước hợp tác về sáng chế"
Mục đích của hội thảo nhằm phổ biến và nâng cao nhận thức của công
chúng về Hiệp ước Hợp tác về sáng chế (PCT) cũng như khuyến khích
các nhà sáng chế Việt Nam khai thác và sử dụng hệ thống PCT trong
việc đăng kí sáng chế ra nước ngoài thông qua việc giới thiệu Hiệp
ước PCT, thủ tục nộp đơn theo thể thức PCT; lợi ích của người nộp
đơn trong việc sử dụng Hệ thống PCT và đặc biệt là kinh nghiệm của
Hàn Quốc trong việc khai thác và sử dụng hệ thống PCT.
Phát biểu tại Hội thảo, Ông Bùi Mạnh Hải, Thứ trưởng thường trực Bộ
KH&CN khẳng định: Hệ thống bảo hộ sáng chế luôn đóng vai tṛ quan
trọng trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ,
sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư nước ngoài. Từ năm 1993, Việt
Nam đă tham gia Hiệp ước và phát huy tác dụng. Số lượng đơn đăng kư
sáng chế của các chủ thể nước ngoài vào Việt Nam liên tục tăng (năm
2004: 1.110 đơn, gấp 6 lần so với năm 1993). Ngoài ra, Việt Nam cũng
nhận được một cơ sở dữ liệu đầy đủ về các sáng chế liên quan đến
PCT, góp phần quan trọng vào công tác xét nghiệm các đơn đăng kư
sáng chế tại Cục Sở hữu trí tuệ, đồng thời là một nguồn thông tin
quư giá đối với các hoạt động nghiên cứu, triển khai tại Việt Nam.
Nhân dịp này, WIPO và KIPO cũng lắp đặt tại Cục Sở hữu trí tuệ hệ
thống tự động tiếp nhận và chuyển các tài liệu liên quan đến đơn
đăng kư quốc tế theo thể thức PCT giữa Việt Nam và Văn pḥng quốc tế
của WIPO.
(Nguồn http://www.noip.gov.vn)
3. Mục tiêu cơ bản của Hệ thống hợp tác quốc tế về Sáng chế
(PCT)
Hệ thống yêu cầu cấp bằng độc quyền Sáng chế (Patent)
truyền thống, về cơ bản, yêu cầu người nộp đơn vào từng quốc gia mà
người đó muốn được cấp patent. Hệ thống này thực tế đă bộc lộ nhiều
hạn chế, chẳng hạn như người nộp đơn phải chuẩn bị và nộp đơn ở tất
cả các nước mà người đó muốn được bảo hộ trong ṿng một năm kể từ
ngày nộp đơn đầu tiên. Điều này dẫn đến nhiều khó khăn cho người nộp
đơn như sức ép về thời gian chuẩn bị thủ tục, giấy tờ, chi phí lớn
cho dịch thuật, chi phí cho đại diện Patent ở các nước.
Để khắc phục nhược điểm cơ bản của hệ thống nộp đơn bảo hộ patent
truyền thống, Hiệp ước hợp tác về bảo hộ Patent đă ra đời năm 1970,
khi đó có 18 nước thành viên tham gia, có hiệu lực vào năm 1978.
Hiện nay, đă có 126 nước là thành viên Hiệp ước này. Việt Nam cũng
là một thành viên của Hiệp ước này.
Mục tiêu cơ bản của PCT
Mục tiêu cơ bản của PCT là đơn giản hoá, tăng tính hiệu lực và tính
kinh tế cụ thể là:
• Tiết lập một hệ thống quốc tế cho phép nộp đơn duy nhất (“đơn quốc
tế”) vào một cơ quan Patent duy nhất (“cơ quan nhận đơn”) bằng một
ngôn ngữ có hiệu lực ở mỗi quốc gia thành viên (“nước được chỉ định”);
• Quy định việc xét nghiệm h́nh thức đối với đơn quốc tế do một cơ
quan Patent duy nhất tiến hành;
• Yêu cầu mỗi đơn quốc tế phải được tra cứu và xét nghiệm quốc tế
nhằm đưa ra một báo cáo về t́nh trạng kỹ thuật tương ứng phục vụ cho
việc xem xét quyết định liệu pantent yêu cầu bảo hộ có khả năng được
cấp Patent hay không;
• Quy định việc công bố quốc tế tập trung các đơn quốc tế cùng các
báo cáo tra cứu quốc tế chuyển cho cơ quan được chỉ định;
• Quy định quyền lựa chọn xét nghiệm sơ bộ quốc tế để các cơ quan
quyết định cấp hoặc không cấp patent và cung cấp cho người nộp đơn
một báo cáo có ư kiến đánh giá liệu sáng chế đó có đáp ứng những
tiêu chuẩn quốc tế nhất định
|