|
Mặt hàng thủy hải sản
(Được cung cấp bởi
Trung Tâm Thông
tin Kinh doanh Châu Âu)
Kim ngạch xuất khẩu mặt
hàng này tăng rất nhanh trong ṿng 5 năm (1996-2000) với tốc độ
trung b́nh hàng năm 54,92%. Năm 1996 đạt kim ngạch 26,9 triệu USD,
năm 1997 đạt 65,0 triệu USD, năm 1998 tăng lên 92,5 triệu USD và đến
năm 2000 đă đạt 154,9 triệu USD (theo số liệu thống kê của EU). C̣n
theo số liệu thống kê của Việt Nam th́ kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản
sang EU năm 1999 đạt 89,1 triệu và năm 2000 là 100,3 triệu USD. từ
1/1/1997 EU đưa ra quyết định cấm nhập khẩu nhuyễn thể hai mảnh ṣ
(ṣ, hến) từ một số nước trong đó có Việt Nam. Lệnh cấm cũng có ảnh
hưởng đáng kể đến xuất khẩu thuỷ sản của ta sang thị trường này giai
đoạn thàng 1/1997-tháng 10/1999. V́ vậy, hàng thuỷ sản xuất khẩu chủ
yếu của Ciệt Nam sang EU là tôm đông lạnh và cua.
Hàng
thuỷ sản Việt Nam trước năm 1991 xuất khẩu vào nước thành viên nào
phải tuân thủ quy định về vệ sinh thực phẩm riêng của nước đó và
không được tự do luân chuyển giữa các nước thành viên EU. Tuy nhiên,
kể từ tháng 11/1999, trong khuôn khổ thị trường EU thống nhất và
theo tinh thần của Hiệp định hợp tác, cơ quan chức năng EU đă cùng
Bộ Thuỷ Sản kiểm tra điều kiện sản xuất và tháng 3 năm 2000 đă công
nhận 29 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn
chất lượng và vệ sinh, đến cuối tháng 6/2000 EU công nhận thêm 11
doanh nghiệp, đưa tổng số doanh nghiệp lên 40; và EU sẽ công nhận,
bổ sung thường xuyên các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn chất lượng và
vệ sinh thuỷ sản xuất khẩu vào EU. Trong số 40 doanh nghiệp này, có
4 doanh nghiệp được xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
Việc
công nhận này không những đảm bảo xuất khẩu ổn định hàng thuỷ sản
Việt Nam vào EU (chỉ phải tuân theo quy định chung của khối về vệ
sinh thực phẩm, được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp giấy chứng
nhận an toàn thực phẩm là được nhập khẩu vào EU và được lưu thông tự
do giữa các nước thành viên) mà c̣n nâng cao uy tín về chất lượng
hàng thuỷ sản Việt Nam trên các thị trường khác, tăng khả năng thâm
nhập thị trường của nhóm hàng này. Theo Bộ Thuỷ Sản, cho đến tháng
12/1999, Việt Nam có 89/238 cơ sở sản xuất thuỷ sản ở qui mô công
nghiệp đă và đang tiến hành xây dựng kế hoạch HACCP, dủ điều kiện để
mở lối vào thị trường EU - thị trường đầy tiềm năng về thuỷ sản.
Tuy
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU tăng trưởng cao
trong những năm qua, thế nhưng hàng thuỷ sản của ta chiếm thị phần
rất nhỏ trên thị trường này. Nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản hàng năm của
EU là rất lớn, nhưng yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng và vệ sinh
thực phẩm đối với mặt hàng này là rất cao. Một số lô hàng thuỷ sản
của Việt Nam xuất khẩu vào EU c̣n không an toàn (nhiễm khuẩn, nhiễm
bẩn, v.v…) và chất lượng chư được ổn định. Đă xảy ra một vài trường
hợp doanh nghiệp Việt Nam làm giả chất lượng hàng thuỷ sản. Do vậy,
EU chỉ nhập khẩu những sản phẩm từ 40 xí nghiệp chế biến thuỷ sản ở
Việt Nam đă được cấp chứng chỉ đủ tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh.
Các xí nghiệp chế biến thuỷ sản khác của Việt nam chưa tiếp cận được
thị trường này. Hơn nữa, việc chủ động t́m hiểu thị trường của các
doanh nghiệp nước ta c̣n nhiều hạn chế và chưa có chiến lược tiếp
thị, quảng cáo sản phẩm trên thị trường. Chính v́ vậy mà các nhà
xuất khẩu Việt Nam không nắm bắt kịp thời được những thay đổi về sở
thích tiêu dùng.
Các
thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong khối EU phải kể đến
Bỉ (29,9%), Italia (17.2%), Hà Lan (15,9%), Đức (15,4%), Anh (9.9%),
Pháp (5.1%), Tây Ban Nha (4.1%), Thuỵ Điển (0.8%), Đan Mạch (0.8%),
Hy Lạp (0.8%), Bồ Đào Nha (0.2%) và Áo (0.1%). Cho đến nay, mặt hàng
này của ta vẫn chưa thâm nhập được vào thị trường Ai Len, Phần Lan
và Lucxembourg.
Tính
đến đầu năm 2000 cả nước đă có hơn 200 nhà máy chế biến thuỷ sản với
khả năng chế biến khoảng 200.000 tấn sản phẩm xuất khẩu/năm. Trong
số này, đến 70% đă hoạt đọng trên dưới 10 năm, máy móc thiết bị phần
lớn đă lạc hậu. Công nghệ chế biến đơn giản, chủ yếu là công nghệ
đông lạnh. Tỷ trọng lao động thủ công là rất lớn. Các yêu cầu về vệ
sinh thực phẩm cũng chưa được đảm bảo. Cho tới nay, mới chỉ có 40
nhà mày đủ điều kiện chế biến thuỷ sản xuất khẩu vào từng nước thuộc
Euvà 0 nhà máy được phép xuất khẩu hàng sang Mỹ. Đây là điểm yếu
trầm trọng của ngành thuỷ sản bởi sau ṿng đàm phản Uruguay và sự ra
đời của WTO, các biện pháp phi quan thuế truyền thống nhưhạn ngạch
và giấy phép trở nên khó áp dụng hơn. Các nươc phát triển đang
chuyển sang sử dụng ngày càng nhiều các biện pháp kỹ thuật để bảo hộ
sản phẩm trong nước. Vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trường và bảo
vệ sinh thái là những lư do mà EU thường xuyên đưa ra để hạn chế
nhập khẩu thuỷ sản vào lănh thổ ḿnh. Trong điều kiện đó, nếu các
nhà máy của Việt Nam không cải tiến công nghệ và không áp dụng qui
tŕnh quản lư chất lượng chặt chẽ (theo tiêu chuẩn HACCP – Tiêu
chuẩn của EU) th́ khó có thể đẩy mạnh được kim ngạch xuất khẩu thuỷ
sản vào thị trường này. Hơn nữa, gần như toàn bộ các nhà máy chế
biến thuỷ sản của ta đều đang dựa vào nguồn nguyên liệu khai thác tự
nhiên do nuôi trồng chưa phát triển và chưa trở thành nguồn cung cấp
ổn định. Mặc dù vậy, thuỷ sản vẫn là một trong những mặt hàng xuất
khẩu mà Việt Nam đang ngày càng có lợi thế hơn so với các đối thủ
cạnh tranh do EU có cơ chế loại dần diện mặt hàng được hưởng GSP.
|