|
Hàng dệt may
(Với
sự hợp tác của
Trung Tâm Thông
tin Thương mại Châu Âu - EBIC Việt nam)
EU là thị trường xuất khẩu
hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam. Từ năm 1980,
chúng ta đă xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU đặc biệt
phát triển mạnh kể từ khi có Hiệp định buôn bán hàng dệt may. Cụ
thể, sau khi Hiệp định này được kư ngày 15/12/1992 và có hiệu lực
vào năm 1993, từ chỗ hầu như bị cấm vận, nhóm hàng này của Việt Nam
xuất khẩu vào EU đén năm 1999 đạt 555.1 triệu USD và năm 2000 tăng
lên 609 triệu USD (theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan Việt
Nam). Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này chiếm
34%-38% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may hàng năm của Việt Nam.
Hiệp
định buôn bán hàng dệt may từ khi được thựchiện cho đến nay đă 2 lần
được gia hạn và điều chỉnh tăng hạn ngạch. Theo Hiệp định này, hàng
năm Việt Nam được xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường EU với lượng
hàng 21.938 tấn – 23.000 tấn. Số cat chịu sự quản lư bằng hạn ngạch
ở một số cat “nong” và nâng mức chuyển đổi hạn ngạch giữa các cat
lên 27%. Tháng 3/2000, Việt Nam đă đàm phán với EU thay đổi thời hạn
điều chỉnh Hiệp định dệt mayđến hết năm 2002 thay v́ năm 2000. Đồng
thời tăng hạn hàng dệt may 16 cat của Việt Nam xuất khẩu vào EU:
trọng lượng tăng 4324 tấn, đạt mức trên 26% so với hạn ngạch cơ sở
của 16 cat; đơn vị sản phẩm tăng khoảng 15 triệu, đạt mức tăng 25%;
trị giá sản phẩm tăng khoảng 120 triệu USD, đạt khoảng 20% so với
năm 1999; sẽ nâng kim ngạch xuất khẩu vào EU năm 2000 lên khoảng 750
triệu USD; tính tỷ lệ tăng b́nh quân 16 cat đạt 55%.
Cùng
với những ưu đăi ngày càng nhiều của phía EU dành cho Việt Nam trong
Hiệp định buôn bán hàng dệt may sửa đổi, kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may vào EU tăng nhanh, năm 1993 đạt 259 triệu USD, năm 1995 đạt
350 triệu USD, năm 1996 đạt 420 triệu USD và năm 1998 lên tới 650
triệu USD (theo số liệu thống kê của tổng cục hải quan Việt Nam).
Thị trường EU chiếm tỷ trọng 46.7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam năm 1995, năm 1998 con số này là 48.1%.
C̣n theo số liệu thống kê của EU, năm 1996 đạt 405,8 triệu USD, năm
1997 đạt 466,1 triệu USD, năm 1998 lên đến 578,7 triệu USD.
Tỷ
trọng các thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong Liên
minh là Đức (49.9%), Pháp (10.8%), Hà Lan (10.3%), Anh (9.4%), Bỉ
(6.1%), Tây Ban Nha (5.1%). Italia (4.4%), Đan Mạch (2.0%), Thuỵ
Điển (1.9%), Áo (1.5%), Phần Lan (0.6%), Ailen (0.4%), Lucxembuorg
(0.3%), Hy Lạp (0.2%) và Bồ Đào Nha (0.1%).
Sau 5
năm thực hiện Hiệp định hàng dệt may, EU đă trở thành thị trường
xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất của Việt Nam. Mặc dù kim ngạch xuất
khẩu tăng lên rất nhanh, nhưng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
sang EU lại đang gặp rất nhiều khó khăn: (1) Thiếu bạn hàng
tiêu thụ trực tiếp, không kư được hợp đồng xuất khẩu trực tiếp với
các bạn hàng EU mà phải thông qua trung gian nên gần 80% hàng dệt
may xuất khẩu sang EU phải gia công qua nước thứ ba, hiệu quả kinh
tế thấp. Phần gia công cho các nước khác (không thuộc ASEAN) xuất
sang EU th́ không được hưởng ưu đăi thuế quan dành cho Việt Nam; (2)
Số lượng hàng hoá EU dành cho Việt Nam c̣n quá thấp so với nhiều
nước và khu vực: chỉ bằng 5% của Trung Quốc, 10-20% của các nước
ASEAN: (3) Số hạn ngạch bị hạn chế thành nhiều nhóm hàng so với các
nước khác: Thái Lan có 20 nhóm hàng, Singapore có 8 nhóm hàng,
trong khi đó Việt Nam 1993-1995 có 106 nhóm hàng, 1996-1998 có 54
nhóm, từ 1998 có 29 nhóm hàng; (4) Sản phẩm xuất khẩu chỉ tập trung
vào một số sản phẩm truyền thống (hàng quen làm dễ thu lợi nhuận)
như: Áo Jackét, áo sơmi và quần tây. Các sản phẩm có yêu cầu kỹ
thuật phức tạp, chất lượng cao th́ Việt Nam chưa sản xuất được hoặc
sản xuất với một tỷ lệ rất thấp.
Cũng
giống như mặt hàng giày dép, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào
thị trường EU chủ yếu theo h́nh thức gia công (chiếm tỷ trọng gần
80%) nên hiệu quả thực té rất nhỏ. Nguyên nhân là do: (1) Ngành dệt
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên phụ liệu của ngành may; (2)
Sự dễ dăi và ít rủi ro của phương thức gia công nên ngành may tuy
phát triển rất nhanh nhưng vẫn là một khu vực sản xuất thiếu tác
phong công nghiệp và thiếu khả năng cạnh tranh; (3) Phương thức phân
bổ hạn ngạch chưa hợp lư cũng đă ḱm hăm tính năng động và sáng tạo
của các doanh nghiệp may; (4) Những rào cản trong thương mại dệt may
tại thị trường EU. Để đẩy mạnh xuất khẩu sang EU trong thời gian
tới, ngoài nỗ lực của chính phủ tạo điều kiện cho ngành dệt may phát
triển, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải cải tiến chất
lượng cà đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng yêu cầu của thị trường và
có thể cạnh tranh được với các sản phẩm của Trung Quốc và các nước
ASEAN khác trên thị trường này khi EU huỷ bỏ chế độ hạn ngạch.
Nếu
những năm tới chế độ hạn ngạch bị băi bỏ, tuy không c̣n các hạn chế
định lượng nhưng đồng thời Việt Nam cũng sẽ không được hưởng các ưu
đăi về thuế quan, v́ vậy đ̣i hỏi sản phẩm dệt may của ta phải nâng
cao khả năng cạnh tranh để duy tŕ vị trí trên thị trường. Bên cạnh
đó, EU là một thị trường đ̣i hỏi cao về chất lượng và mẫu mốt. Thời
trang là một trong những yếu tố quyết định tiêu thụ sản phẩm trên
thị trường này. Xu hướng buôn bán nội khu vực giữa các nước EU cũng
là một khó khăn cho Việt Nam trong khả năng tăng xuất khẩu sang thị
trường này. |